Sign up

KHÔNG ĐƯỢC ĐẶT TÊN – 80 TUỔI VẪN NGANG HÀNG CON NÍT

minhhuevov | 18 January, 2009 20:13

  

   Tày - Dao kết bạn

   Xóm Mít - xã Tu Lý, hyện Đà Bắc - Hoà Bình là một xóm của người Dao Tiền hạ sơn hơn chục năm nay. Từ đường quốc lộ vào không xa lắm. Nhiều nhà có tivi, cát-xét, thế nhưng có một lễ tục từ xa xưa vẫn hiện hữu trong mỗi gia đình, dưới mỗi nếp nhà, đó là Lễ Lập tĩnh.

    Lễ Lập tĩnh hay còn gọi là Lễ đặt tên, chỉ dành cho con trai khi 10-12 tuổi. Anh Bàn Văn Lâm - Trưởng thôn Xóm Mít, giải thích: Mỗi con trai là một nhà riêng, một giường thờ riêng, nối dõi cho tổ tiên thì mới đặt tên, còn con gái sau này đi lấy chồng sẽ theo dòng họ khác. Như vậy, người đàn ông dân tộc Dao, ai cũng có hai cái tên, một tên thường gọi và một tên được đặt trong lễ Lập tĩnh chỉ để dùng trong những dịp cúng lễ, trình báo tổ tiên, gọi là bí danh, có nơi gọi nôm na là "tên âm". Thế nhưng, đây lại là cái tên có ý nghĩa rất lớn trong cuộc đời người đàn ông Dao Tiền. Nếu anh không làm lễ Lập tĩnh, không có tên cúng cơm thì cũng đồng nghĩa với việc anh là người kém cỏi, chưa đủ tư cách làm người lớn, không có vai trò vị trí trong dòng họ, trong cộng đồng theo quan niệm từ bao đời truyền lại. Và quan trọng hơn theo người Dao, khi chết đi sẽ không về được với tổ tiên. Còn khi đã làm lễ đặt tên, ngoài mọi quyền lợi được hưởng, anh ta còn được mời đi làm thầy trong các lễ Lập tĩnh của con cháu bên họ ngoại. Trước kia, nhiều người quá nghèo, khi còn sống không có tiền làm lễ Lập tĩnh cho con. Khi họ qua đời, người con ấy phải sắm lễ Lập tĩnh tự đặt tên cho mình. Và không ít người Dao Tiền khi bước vào tuổi cổ lai hy vẫn không có tên vì trong đời họ chưa bao giờ làm lễ Lập tĩnh. Thế nên, mới có chuyện có những cụ ông 70 - 80 tuổi, lứa tuổi có thể trở thành già làng, nhưng do chưa làm lễ đặt tên, họ bị xếp vào mâm dưới, ngồi ăn cùng đám con nít. Tuy nhiên, qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, Lễ đặt tên của người Dao Tiền thực chất là lễ công nhận một thành viên chính thức của dòng họ đã đến tuổi trưởng thành, có quyền và mọi nghĩa vụ trong dòng họ. Lễ đặt tên còn là sự trình báo cho tổ tiên biết: một thành viên của dòng họ nhập vào tổ tiên, có nghĩa vụ nối dõi và làm tròn phận sự của mình... Ngày làm Lễ Lập tĩnh là ngày vui của gia đình, dòng họ và cũng là ngày vui của cả bản làng. Nghi lễ gồm có gà, rượu, gạo và bắt buộc phải có 3 con lợn. Hai ông thầy mo có uy tín được mời đến cúng suốt hai ngày hai đêm. Đúng 12 giờ đêm đầu tiên của lễ, đứa bé sẽ phải cùng bố đẻ mình ăn hết 1 con gà. Cái tên được đặt vào lúc một giờ sáng. Người ta vừa hát vừa nhảy múa, gọi là hát chào chèo. Điệu hát chào chèo không được hát bất cứ ở đâu, làm đám Lập tĩnh mới được hát. Đó là điệu múa Chunghát mời tổ tiên về chứng giám.

   Lễ Lập tĩnh của đồng bào Dao Tiền còn tồn tại đến ngày nay đã góp phần lưu giữ nhiều loại hình văn hoá dân gian của dân tộc Dao. Tuy nhiên, để làm một cái lễ Lập tĩnh, người Dao Tiền phải có ít nhất 1 tạ gạo, 100 lít rượu, 50 con gà và 3 con lợn từ 50 đến 80 kg/con, tương đương khoảng 3 triệu đồng. Nay, thực hiện nếp sống mới, lễ Lập tĩnh có phần giản tiện hơn. Nếu muốn tham dự vào lễ Lập tĩnh của đồng bào Dao Tiền, bạn hãy đến các bản làng Dao khoảng tháng 11, 12 hoặc vào mùa xuân

RUỘT NON, RUỘT GIÀ – THẰNG NÀO TRẺ HƠN

minhhuevov | 17 January, 2009 22:40

  

   Ra biển để nguyên giày thể thao mới "model"!

      

      Về thăm ông bà nội. Ngồi sau xe, Bi hỏi đủ chuyện. Mà toàn hỏi

những điều phì cười.

   - Mẹ này, ruột non và ruột già thì thằng nào trẻ hơn, ý con nói là thằng nào có trước, thằng nào có sau?

   - Chắc con nghĩ là ruột già nhiều tuổi hơn phải không?

   - Con đang nghĩ thế đấy.

   - Sao tự nhiên con lại quan tâm đến mấy cái thứ ở trong bụng vậy?

    - Thì cô con có nói về chúng mà. Khi học môn tự nhiên xã hội ấy!

Nhưng mà cô con chỉ nói sơ qua thôi. Con không dám hỏi.

    - Thế thì mẹ giải thích cho con thế này: Ruột non, ruột già – bọn

chúng bằng tuổi nhau và bằng tuổi của con người luôn. Ví con 8 tuổi thì

ruột non, ruột già của con cũng 8 tuổi.

   - Lạ nhỉ, rõ ràng non thì phải trẻ hơn già chứ!!!

      (Có vẻ chưa tâm phục khẩu phục)

ĐẺ TỪNG ĐỨA HAY ĐẺ TỪNG CHÙM?

minhhuevov | 14 January, 2009 22:30

  

   

   Leo lên giường đi ngủ, Bi mè nheo:

   - Mẹ ơi, hôm nay mẹ kể chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh cho con nghe đi. Mẹ kể dài, đầy đủ vào, chứ sách của con có mỗi đoạn ngắn.

   - Được rồi… “Ngày xửa ngày xưa….

   - Bây giờ Sơn Tinh, Thủy Tinh còn sống không?

   - Không, Sơn Tinh, Thủy Tinh chết lâu lắm rồi. Sơn Tinh chết đi hóa thành núi, còn Thủy Tinh hóa thành sông, biển.

    - Sơn Tinh và Mị Nương có con cái không mẹ?

   - Có chứ.

   - Thế con cái họ biến thành cái gì?

   - À, biến thành cây cối. Con xem ti vi thấy trên núi có rất nhiều cây cối xanh tươi. Đấy là con của vợ chồng Sơn Tinh.

    - Thế à. Vậy thì khi họ đẻ, họ đẻ từng đứa một hay từng chùm con hả mẹ?

ĐÓN TẾT CÙNG NGƯỜI PU PÉO

minhhuevov | 13 January, 2009 22:50

   Tại nhà ông Củng Diu Xuyền, xóm Củng Chá (Phố Là, Đồng Văn, Hà Giang), 30 Tết, mọi người tất bật chuẩn bị làm cơm cúng Tổ tiên. Đó là việc mà gia đình người Pu Péo nào cũng làm rất cẩn trọng. Ông Củng Diu Xuyền lặng lẽ bày lễ. Mâm cúng là cái nong tròn nhỏ, dưới xuôi thường gọi là cái mẹt, đan bằng tre, trên đó, cơm được tãi ra, đặt miếng thịt lợn luộc chín. Mâm ở giữa có 4 chén rượu nhỏ, còn hai mâm đặt hai bên mỗi mâm 2 chén. Bây giờ, dù nhiều nhà có mâm nhôm nhưng mỗi khi cúng lễ, người Pu Péo đều phải biện lễ trên cái nong ấy. Anh Củng Phủ Xuẩn, con trai ông Xuyền cho biết: “Từ xưa các cụ truyền lại, đã cúng là phải cúng bằng cái mâm đan bằng cây trúc này, xưa các cụ làm gì có mâm nhôm. Mình cứ phải theo các cụ thôi, dùng mâm nhôm sợ các cụ “không nhận ra” nên phải dùng đồ cổ”.
   Ông Xuyền khăn áo chỉnh tề, ngồi xếp bằng tròn trước mâm lễ, tay cầm đuôi trâu khô, đưa đi đưa lại, rồi lầm rầm cầu khấn, mời Tổ tiên 5 đời về ăn tết với con cháu. Ông Củng Diu Xuyền lý giải phải cầm đuôi trâu là vì trước đây thời loạn lạc, phải chạy trốn khỏi bọn ăn thịt người sống cho nên người Pu Péo cầm đuôi con trâu. Trâu giúp người vượt qua biển. Con cháu đời sau mỗi khi cúng Tổ tiên đều cầm đuôi trâu với ý nghĩa nhớ ơn Tổ tiên, đồng thời để Tổ tiên nhận ra con cháu. Thế nhưng không phải đuôi trâu nào cũng đem phơi khô dùng cho cúng lễ. Cái đuôi trâu đó phải đưa lên bàn thờ, dâng Tổ tiên, khấn mời tổ tiên nhận mới dùng được. Thường thì chỉ thầy cúng mới có cái đuôi trâu khô đó. Nếu không mời thầy cúng, gia đình tự cúng lễ thì có thể thay đuôi trâu bằng 1 quả bầu khô. Người cúng sẽ cầm quả bầu khô mời Tổ tiên về ăn tết. Qủa bầu đối với người Pu Péo cũng là ơn cứu mạng. Khi nước ngập trần gian, nhờ có quả bầu mà người Pu Péo thoát chết. Vì thế, ông Củng Diu Xuyền mới dặn đò con cháu mình rằng: “Dùng quả bầu để tưởng nhớ các cụ thuở xưa, nhớ Tổ tiên của mình. Quả bầu đó mình phải tự trồng lấy, tự tay đem phơi khô chứ không được đi mua ở chợ. Mâm cơm cúng được dọn ra. Ngày thường ăn cơm ở chỗ nào cũng được nhưng bữa cơm chiều 30 Tết, sau khi cúng Tổ tiên xong thì cả gia đình phải ăn cơm trong gian thờ, ngay dưới bàn thờ Tổ tiên. Đấy là cách người Pu Péo sum họp với Tổ tiên mỗi năm chỉ có 1 ngày.
   Sau bữa cơm chiều 30 Tết, nhà nhà háo hức chờ đón phút giao thừa thiêng liêng để đi lấy nước mới. Bước sang năm mới, cả làng cả xóm đi lấy nước để cầu may. Người Pu Péo gọi là “nước vàng, nước bạc”. Khi đi lấy nước, anh Củng Phủ Xuẩn không quên mang theo bó hương và giấy vàng để đến mỏ nước thì đốt hương cầu khấn thần nước: “Xin thần Nước cho nó chảy mãi mãi để bà con cả bản cả làng được hưởng”. Nước đầy thùng, anh Xuẩn bỏ ít giấy vàng vào thùng gánh về. Ấy là của cải, là vàng bạc”, là lộc xuân. Thế nên, càng lấy được nhiều nước thì càng có nhiều may mắn. Theo lời anh Củng Phủ Xuẩn: “Gánh nước ấy, mình chưa được đổ vào vại ngay, mình gánh thẳng về nhà, thay toàn bộ nước cũ, lấy nước ấy đun lên rửa mặt. Cả nhà rửa xong, nhớ là không được đổ ra ngoài tí nào, mà phải đổ hết vào trong nhà. Anh mà đổ ra ngoài thì năm ấy sẽ không may mắn, vì đó là nước bạc, nước vàng, mình lấy về nhà mình, nó là của cải, đổ đi thì khác nào đổ của cải đi”. Ai đi lấy nước cũng được, chả cứ gì chồng hay vợ hay con cái. Nhưng ông Xuyền bảo ở nhà ông, thường là đàn ông đi lấy nước. Người con trai trong nhà phải đi lấy nước vàng nước bạc từ sáng sớm. Năm mới phải ăn nước mới, người mới mạnh khỏe. Dùng cái nước cũ thì dễ mắc bệnh tật. Mùng Một Tết, tầm 1-2 giờ sáng đi lấy nước về, đun lên rửa mặt. Người ta có cái đồng bạc già đặt ở chậu rửa mặt, khăn mặt cũng phải mới, đưa cho bố mẹ rửa trước, sau mới đến con cái. Nước mới cũng dùng để đun nước pha trà, đưa lên bàn thờ tổ tiên.
    Vui chuyện, ông Xuyền còn dặn dò: “Dân tộc Pu Péo sáng mùng Một sang nhà nhau chúc Tết chủ yếu con trai đi chúc thôi nhé. Con gái còn nhỏ đi cùng cũng được. Còn con gái lớn 13 tuổi trở lên, mùng Một Tết không vào nhà ai, hết mùng Hai mới được đi. Nếu con gái lớn, sắp lấy chồng vào nhà người ta, người ta kiêng, năm ấy xúi, làm ăn không phát tài. Còn con trai thì đến càng sớm, chủ nhà càng vui. Người đến chúc Tết cũng phải lịch sự tí, làm ăn khấm khá tí, vào nhà người ta người ta thích hơn, người đần độn vào, người ta buồn lắm, người ta không thích đâu”. Ở nhiều địa phương, nếu gia đình có tang thì Tết năm ấy kiêng không đến nhà ai sợ mang đến vận đen đủi. Thế nhưng người Pu Péo lại quan niệm khác, họ không kiêng khem điều này vì theo họ sáng mùng Một là năm mới rồi, tang là tang từ năm cũ.
   Ngày Tết, người Pu Péo làm bánh trôi, ăn vào ngày mùng Một với quan niệm ăn bánh trôi thì nuôi gà, gà sẽ đẻ nhiều trứng to như cái bánh trôi.
    Người Pu Péo còn có tục “đón giọng gà” hay còn gọi là “cướp giọng gà”. Khi giao thừa đến, sắp sang Năm mới, gà vừa vỗ cánh, chuẩn bị gáy là người ta đốt ngay 1 quả pháo, ném vào chuồng gà. Lũ gà giật mình, nhảy lên thi nhau gáy. Ngay lập tức, mọi người hò nhau hát vang trời để át tiếng gà gáy. Trong tâm thức người Pu Péo, tiếng gà gáy vừa hay, vừa thiêng liêng, đánh thức cả ông mặt trời dậy. Vì thế, người Pu Péo muốn tiếng hát của mình át tiếng gà với niềm tin hồn nhiên rằng: Người nào làm được như thế thì sang Năm mới sẽ hát hay, gặp nhiều may mắn, hạnh phúc.

 Thiếu nữ Dao và Pu Péo trong ngày hội
 
    Bên bếp lửa ấm áp, chúng tôi quây quần như người một nhà, nhấm nháp chén rượu đầu xuân, người già kể chuyện xưa, người trẻ nói chuyện học hành, chuyện làm ăn. Ngoài trời mưa sương đang gội lên cành đào, cành mận… Tôi cảm nhận rất rõ những nụ mầm đang vươn ra từ những thân cây màu xám.

BÙA YÊU CỦA NGƯỜI MÔNG

minhhuevov | 13 January, 2009 22:14

  
Khởi nguồn của tình yêu
   Gửi tình yêu vào ruộng bậc thang
   Trước đây, thanh niên Mông tin rằng: Muốn người nào đó yêu mình thì phải lấy trộm được tóc của người ấy, đem cuốn với tóc của mình. Sau đó bắn tin cho đối tượng, chắc chắn tình yêu sẽ đến. Có người lại tin: đốt đoạn đuôi rắn bôi vào cành cây búc rúc, quẳng vào lối mà cô gái hay đi qua, cô gái bước qua hay dẫm phải cành cây thì sẽ mắc vào “bùa yêu”, phải lấy người bỏ bùa. Con gái Mông còn tin rằng: muốn quyến rũ ai đó thì một mình ra bờ sông Nho Quế (con sông ở vùng Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) sâu thăm thẳm, nằm giữa hai vách núi dựng đứng), lúc trời lặng gió mà nhìn thấy cái lá nào vẫy vẫy thì ngắt về, đốt lên, hòa với nước, lén cho người đó uống. Thế là anh chàng yêu chết mê chết mệt. Bùa yêu này theo người già thì vô cùng hiệu nghiệm! (Chả biết có đúng không!)
   Đó là chuyện của người xưa nhưng đến tận bây giờ trong các bản làng Mông, người ta vẫn nhắc đến bùa yêu như khát vọng về hạnh phúc và thuỷ chung. Từ xa xưa, con gái, con trai Mông đã chỉ nghe theo tiếng gọi của trái tim, người Mông không lấy vợ lấy chồng theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Con gái Mông đã yêu thì mãnh liệt vô cùng, nếu thích ai thì bỏ nhà bỏ cửa đi theo, mà không thích thì trâu béo, bạc nén cũng chẳng thèm. Tình yêu khiến người ta vượt trăm sông ngàn suối để đến với nhau. Tình yêu thành lời hát, thành tiếng khèn tha thiết ở những phiên chợ tìm bạn, trên các sườn non, vách núi. Các chàng trai dùng tiếng khèn, điệu hát thay cho lời tỏ tình. Họ say nhau trong điệu múa tình tứ và trong những câu hát đối đáp giao duyên vấn vít, trong tiếng đàn môi thầm thì, thầm thì... Những đêm trăng sáng, chàng trai đem khèn đến nhà cô gái mà anh ta ưng tấu lên khúc nhạc yêu da diết, đến nỗi cô gái không thể cầm lòng tìm đến với bạn tình. Khi đã ở bên nhau chàng mới ngỏ lời: “Cái bụng anh thương em nhiều như lá rừng. Em không có lòng thì thôi. Có lòng thì về ta ở với nhau một đêm. Em không có lòng thì thôi, có lòng thì về, ta ở với nhau một ngày” . Cách bày tỏ tình yêu hết sức bộc trực, thẳng thắn mãnh liệt. Có lúc tình tứ lãng mạn đắm say, như lời bài dân ca Mông: “Gió về thổi lá cây bên khe. Nếu ta là giọt mưa sương ta xin tan trên bàn tay nàng. Gió thổi lá cây, lật ngả nghiêng bên suối. Nếu ta là hạt mưa sương. Ta xin tan dưới bàn chân nàng” . Người Mông có hình thức “kéo vợ” (mà ta hay gọi là cướp vợ), không giống với bất kỳ dân tộc nào. Cho dù cô gái đã ưng thuận, nhưng khi chàng trai “bắt” cô vẫn cố tình giằng co để chứng tỏ danh giá của mình. Cái lý của người Mông, theo anh Sùng A Lứ, ở bản Lao Chải, Sapa (Lào Cai) là “để mai ngày sống với nhau có điều gì khúc mắc, chàng trai không được nói là “cô tự theo tôi về” và cô gái cũng nói được: “anh kéo tôi về đấy chứ” .
   Tôi đã từng đến một số vùng đồng bào Mông, thấy cái giường hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ vừa ngắn lại vừa hẹp. Dường như ở đây không tồn tại khái niệm giường đôi…Chiếc giường chỉ dài 1,5 m, rộng 1,2 m. Tại sao cái giường hạnh phúc lại chỉ bằng chừng ấy? Người Mông quan niệm cái giường càng ngắn, càng hẹp thì chứng tỏ vợ chồng nhà đó yêu thương nhau càng nhiều. Vì cái giường ngắn, hẹp phải quấn quýt lấy nhau mới có nhiều tình cảm!
   
Ném pao tỏ tình
   Ném pao tỏ tình
   Tôi cũng đặc biệt thích thú và thật sự khâm phục khi nhìn cảnh vợ chồng người Mông đi chợ về, anh chồng say nằm vắt ngang trên lưng ngựa, chị vợ kiên nhẫn túm đuôi ngựa, leo hết dốc này đến dốc khác, đưa anh chồng say mềm về nhà. Khi say quá, anh chồng nằm vật bên vệ đường, thì cô vợ kiên nhẫn ngồi che ô, chờ đợi, quạt cho chồng cho đến khi nào tỉnh rượu. Người phụ nữ Mông cũng có “cái lý” riêng của người vùng cao, nói như chị Dương Thị Phương, dân tộc Mông ở Hà Giang: “Chồng bạn say mới chứng tỏ là chồng bạn cao sang, giao du nhiều, có nhiều bạn tốt. Bạn mà không che ô cho chồng thì có người khác che ô thôi, bạn sẽ mất chồng”. Người phụ nữ Mông xưa nay thường lệ thuộc vào người chồng vì giữa thiên nhiên hoang sơ, dữ dội người phụ nữ ai chả muốn được nương tựa, chở che. Thế nhưng, không phải vì thế mà người phụ nữ không được đề cao, tôn trọng. Chị Phương còn cho biết: “Người đàn ông Mông khi cầm khèn thồi, điều đặc biệt là bài khèn đầu tiên bao giờ cũng nói về người phụ nữ, ngợi ca người phụ nữ, rằng họ là ngọn lửa sưởi ấm gia đình, sưởi ấm trái tim người đàn ông”.
  
Tìm bạn ở chợ phiên
   Tìm bạn ở chợ phiên
   Trong xã hội Mông, tình cảm vợ chồng thuỷ chung luôn luôn được coi trọng. Mọi chuyện dan díu, bất chính đều bị lên án. Ngày nay, việc giao lưu văn hoá giữa các dân tộc được mở rộng, lối sống hiện đại đã len lỏi vào nhiều bản Mông, song người dân nơi đây vẫn giữ được chất lãng mạn, trong sáng trong tình yêu đôi lứa và trong hôn nhân gia đình. Hiếm khi bố mẹ đánh mắng con cái, và đặc biệt tỷ lệ vợ chồng ly hôn có lẽ là thấp nhất so với nhiều dân tộc khác. Phải chăng đó cũng là nhờ những phong tục hôn nhân truyền thống tốt đẹp mà các thế hệ người Mông biết nâng niu, gìn giữ!

Ngộ nghĩnh 2

minhhuevov | 18 November, 2008 08:08

 
   

CÁI CHỨC NGU XUẨN

Ngày 9-11-08

Bữa cơm hôm nay, Bi không vui. Kể: bạn Hiếu tổ con bị cách chức tổ trưởng rồi. Cô cử con thay bạn ấy làm tổ trưởng. Con thấy mệt mỏi quá.. (thở dài). Nào là chia cơm, nào là chia vở, nào là ghi tên các bạn nói chuyện...

Con ghét cái chức ngu xuẩn này!!!!

(Tội nghiệp, mới có cái chức bé con con đã thấy áp lực rồi!!!)

 (Xem tiếp)

Ngộ nghĩnh 1

minhhuevov | 18 November, 2008 08:05

 

Các bạn thân mến.  Con trẻ những năm tháng đầu đời tiếp nhận thế giới xung quanh, bắt đầu học nói, diễn đạt ý mình có rất nhiều chuyện ngộ nghĩnh, đáng yêu. Mời các bạn hãy tham gia, chia sẻ những câu chuyện của con cháu mình. Biết đâu chúng ta lại có hẳn 1 "quyển" "từ điển" về ngôn ngữ của trẻ nhỏ. Trước hết xin góp đôi chuyện của con trai Trần Nam Vũ, năm nay 8 tuổi, tên gọi ở nhà là Bi.

 

 

 

 

 (Xem tiếp)

Đi tìm lời hẹn Khau Vai

minhhuevov | 24 October, 2008 14:54

Chợ tình Khau Vai, thuộc địa phận xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc, Hà Giang cách trung tâm huyện hơn 20 cây số. Chợ mỗi năm chỉ họp 1 phiên vào ngày 27/3 âm lịch. Phiên chợ này dành riêng cho những đôi lứa yêu nhau mà không lấy được nhau, mỗi năm nhằm ngày 27/3 vượt núi băng rừng về đây gặp nhau



Anh Hoàng Văn Bộ, Trưởng Phòng Văn hóa Thông tin huyện Mèo Vạc giảng giải: "Khau Vai là Dây mây, theo tiếng địa phương".  

 (Xem tiếp)

Phiên chợ vùng cao

minhhuevov | 24 October, 2008 08:30

Một người đàn ông Mông đi bán mèo. Hỏi con mèo này có bắt chuột giỏi không? Anh thật thà: “Chuột thì không bắt đâu, nhưng gà thì cứ phát một, phát một”! Cứ theo thiển ý của tôi thì sau khi nghe anh ta nói vậy, chẳng ai còn muốn mua mèo của anh nữa. Nhưng người vùng cao là thế, không nói dối

 

Mới 8h sáng, mọi ngả đường về chợ Bắc Hà (Lào Cai) đã rực lên sắc màu thổ cẩm. Người vùng cao đi chợ phiên như thể đi hội vậy. Ai nấy áo váy đều rực rỡ. Hàng hoá ở chợ Bắc Hà chủ yếu là sản vật miền rừng, do bà con các dân tộc làm ra. Mùa nào thức ấy. Hôm chúng tôi đến đúng dịp mùa mận chín rộ. Cơ man nào là mận, chín mọng, xếp đầy ắp gùi lớn gùi bé, bầy san sát bên vệ đường... (Xem tiếp)

Chuyện ngựa ở Bắc Hà

minhhuevov | 21 October, 2008 15:33

Ngựa với người vùng cao vốn là phương tiện chở hàng hoá từ xưa... Nay, xe máy ngược núi đã nhiều hơn trước, nhưng những nơi đèo cao dốc đứng như vùng cao Bắc Hà (Lào Cai), xe máy vẫn không thay được ngựa. Ngựa thồ hàng xuống chợ phiên. Ngựa chở ngô từ nương rẫy về bản. Ngựa chở vôi, cát, ximăng thuê cho các công trình... Sáng còn là ngựa thồ, chiều đã thành ngựa đua, tranh tài, giật giải quán quân ngày lễ hội làm rạng danh cho chủ... 

 (Xem tiếp)

BẨY ĐỜI GIỮ LỬA CA TRÙ

minhhuevov | 21 October, 2008 15:31

Càng về khuya, câu hát ngân nga trong vắt, luyến láy như chất chứa cả nỗi niềm nhân thế quyện với tiếng đàn đáy khi vê khi vẩy, khi trầm khi bổng, tiếng "tom chát", tiếng phách lách cách, khoan thai như xoáy vào tâm can. Ca nương áo the đen ánh lên sắc đỏ tía từ chiếc áo dài bên trong, đầu vấn khăn nhung buông tóc đuôi gà, kép đàn, quan viên cầm chầu mặc áo dài khăn đóng. Người hát, người đàn, người thưởng thức ca trù dường như cùng chìm vào cõi mộng. Xưa có người "nghiện" lối chơi tao nhã, lịch lãm này cũng là điều dễ hiểu. (Xem tiếp)

Sủi cảo 18 món...

minhhuevov | 21 October, 2008 15:13

  Phó giám đốc Phàm (Đài Phát thanh tỉnh Thiểm Tây) tươi cười thông báo sẽ chiêu đãi món ăn đặc sắc của thành phố Tây An. Đến Tây An mà chưa được thưởng thức sủi cảo thì coi như chưa đặt chân đến Tây An.

 

http://i107.photobucket.com/albums/m319/becool_smiley/NewPicture7.jpg

 

 (Xem tiếp)

Đàn ông thổi sáo phải mặc váy đàn bà

minhhuevov | 21 October, 2008 15:11

Đó là phong tục của đồng bào Triêng ở Kon Tum. Loại sáo này có tên là đinh tút, được chế tác bằng những ống tiêu, hoặc ống nứa. Đinh tút gồm 6 ống nứa tách rời, có đường kính bằng nhau nhưng dài ngắn khác nhau. Mỗi ống nứa, một đầu có mắt bịt, đầu kia được vát hai đường chéo, một đường chéo để tỳ vào môi, đường chéo kia để đón hơi từ miệng thổi vào.  (Xem tiếp)

Quan đám ở đền Cổ Loa

minhhuevov | 21 October, 2008 15:04

Quan đám phải là người có nết ăn ở gọn gàng, sạch sẽ, đi đứng đĩnh đạc, không co ro cúm rúm, nói năng mạch lạc. Thời nay, có thêm tiêu chuẩn phải đạt danh hiệu "gia đình văn hoá"

 

Quan đám - cả họ tự hào

Đã hơn 12 giờ trưa, viên quan đám Nguyễn Đăng Hợi đang ngả lưng trên chiếc giường xếp. Thấy có khách, ông bật dậy, cặn kẽ chỉ cho khách thắp nhang, đặt lễ. Áo vàng, khăn xếp vàng, dáng khoan hoà, ông Hợi ôn tồn giảng giải những thắc mắc của du khách.  (Xem tiếp)

Truyện kiều trên… đá

minhhuevov | 17 October, 2008 16:15

3254 câu thơ Kiều tuyệt tác của Nguyễn Du được viết bằng nét chữ bay bổng kiểu thư pháp trên 1627 viên đá cuội trắng và được định vị vào 9 khung sắt. Mỗi khung được xem là 1 trang Truyện Kiều.

Trang bìa được làm bằng thạch cao, khắc chân dung một thiếu nữ mô phỏng nhân vật Vương Thúy Kiều. Cảm nhận những câu thơ: "Dưới cầu nước chảy trong veo. Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha...", "Người lên ngựa, kẻ chia bào. Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san"... giữa cỏ cây, hoa lá, giữa bóng nắng nhảy nhót, bên dòng Hương Giang êm đềm quả là có một ý vị riêng.




 (Xem tiếp)
«Trước   1 2 3  Sau»