Sign up

TÌNH NGƯỜI CHỢ PHIÊN

minhhuevov | 05 July, 2009 15:43

   Các bạn thân mến. Thời gian vừa rồi, bận rộn nhiều việc nên MH không thường xuyên chăm sóc web này, không giao lưu cùng các bạn. Hôm nay “khoe” 1 tin vui, MH vừa đoạt giải nhất khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, chương trình phát thanh với chủ đề “Sự hội nhập của cộng đồng thiều số”. Cuộc thi này do Viện Phát thanh và Truyền hình Châu Á-Thái Bình Dương phát động. Post văn bản và âm thanh lên đây, chia vui cùng mọi người.

   GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH

   Chủ đề: Tình người chợ phiên

   Thời lượng: 20 phút

   Nội dung: Khắc hoạ bức tranh bằng âm thanh chợ phiên, một sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người dân tộc thiểu số ở vùng cao Bắc Hà, Lào Cai. Đó là nơi giao thương, trao đổi hàng hoá, đồng thời là nơi giao lưu tình cảm cộng đồng. “Tình người chợ phiên” kể những câu chuyện giản dị về chuyện bán buôn sòng phẳng, không gian dối, lừa gạt của người bản địa, sự hồn hậu, chân chất, tình người nồng ấm, chân thành của người Mông, người Tày trong không gian giao thương, năng động ở chợ phiên. Người dân tộc thiểu số hoà nhập nhưng không “hoà tan” bởi vẫn giữ được những chuẩn mực ứng xử, tập tục và truyền thống văn hoá độc đáo. Chất văn hoá, chất nhân văn thẫm đẫm trong từng chi tiết.

    TÌNH NGƯỜI CHỢ PHIÊN

    Minh Huệ xin chào đồng bào và các bạn. Chúng ta lại gặp nhau trong chương trình Giao lưu văn hoá các dân tộc thứ 7 hàng tuần. Bạn đang mong một cuộc hành trình đến vùng đất nào vậy? Nghe những âm thanh này, bạn hãy đoán xem hôm nay chúng ta sẽ du ngoạn tới đâu.

    - Nhạc: Tiếng nhạc biên cương (Nhạc ngựa)

    Chắc là các bạn đã đóan biết được cuộc hành trình của chúng ta hôm nay rồi đúng không? Vâng, các bạn đang ở vùng cao phía bắc Tổ Quốc. Và điểm đến của chúng ta hôm nay sẽ là chợ phiên. Chợ có thể nói là một bảo tàng sống về sinh họat văn hoá cộng đồng mang những nét đặc sắc về phong tục, tập quán vùng miền hết sức phong phú, đa dạng. Bạn đã đi chợ phiên vùng cao bao giờ chưa? Chợ phiên vùng cao, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống có gì đặc biệt? Nếu chưa từng đến chợ Bắc Hà, Cán Cấu, Cốc Ly, Sa Pa ở Lào Cai thì đây chính là cơ hội của bạn rồi, cơ hội để khám phá nhiều nét văn hóa tộc người đặc sắc qua một sinh họat cộng đồng phổ biến – chợ phiên.

    CHỢ PHIÊN BẮC HÀ …

    - Băng: (Âm thanh ồn ào chợ nền xuống)

   Chúng ta đang có mặt tại ngày chợ phiên Bắc Hà (Lào Cai). Mới chừng hơn 8h sáng mà vào chợ, nhiều chỗ phải nghiêng người, lách mãi mới đi được. - Băng: (Nhạc kèn thu trong chợ). Chắc bạn rất ngạc nhiên khi nghe những âm thanh này đúng không? Nhưng bạn đừng lầm tưởng là đang ở trong buổi biểu diễn văn nghệ đấy. Chúng ta đang ở một góc chợ, nơi mọi người xúm quanh hai người đàn ông dân tộc Mông, cầm trên tay chiếc kèn trông giống như bông hoa loa kèn. Chủ nhân của nó, anh Giàng Seo Lùng từ tận Simacai về chợ Bắc Hà đang say sưa thổi. - Nổi âm thanh Dường như thổi kèn là cái cách hai người đàn ông dân tộc Mông “chào hàng”. Dù không mua nhưng nếu bạn muốn biết về phong tục sử dụng kèn, anh Giàng Seo Lùng vẫn rất vui vẻ giới thiệu:

   - Băng trò chuyện:

   Kèn này làm bằng gỗ, bằng tre. Cái này dùng trong đám ma, dù bày bán ở chợ nhưng dùng trong đám ma khô. Các cụ qua đời là phải thổi cho các cụ, có kèn, sáo này, trống này. Đấy là bài trong đám ma luôn, không dùng trong đám cưới, mình tự làm, lấy trong rừng đất Bắc Hà mình thôi. Làm mất đúng 1 ngày.

   - Mỗi buổi chợ bán được mấy cái hả bác?

   - Mỗi phiên chợ bán được 3-4 bộ, mỗi bộ 100.000 đ

   Ông Ly Seo Sì ở Bản Phố mang đến chợ bán hai loại nhạc cụ, kèn và khèn Mông. Ông Sì bảo rằng, cây kèn hình bông hoa này chỉ dùng trong đám ma, còn cây khèn do nhiều ống nứa nhỏ ghép lại kia thì dùng được nhiều “việc” hơn, thổi đám ma, thổi văn nghệ, và mang đi tán tỉnh bạn gái nữa

   - Băng:

   Con gái múa ô, con trai múa khèn. Nó cũng có bài thổi đi tán gái,có bài thổi đám ma.

   - Bác có biết thổi bài tán gái không?

   - Có chứ, tôi thổi cho mà xem

    Tiếng khèn tán gái

   - Đấy là gạ nó múa theo mình, nói chuyện tình cảm với nhau, tôi rất yêu cô.

   Hàng hoá ở chợ Bắc Hà chủ yếu là sản vật miền rừng, do bà con các dân tộc làm ra. Mùa nào thức ấy. Chúng tôi đến đúng dịp mùa mận chín rộ. Cơ man nào là mận, chín mọng, xếp đầy ắp gùi lớn gùi bé, bầy san sát bên vệ đường…Có 2 loại hàng hoá đặc trưng mà chợ vùng cao nào cũng có đó là rượu và thổ cẩm. Chợ Bắc Hà có rượu ngô Bản Phố nổi tiếng. Bán rượu chủ yếu là phụ nữ, còn người đi mua rượu thì thấy toàn đàn ông. Các bà các mẹ ngồi sau các can nhựa to lù. Có gã đàn ông cứ lân la hết hàng này đến hàng khác, thử rượu đến say mèm mà chưa mua được chai nào! Chả sao, người bán rượu vẫn vui vẻ nâng can rót tiếp. Chị Vàng Thị Dó, xã Bản Phố tiếp chuyện tôi, vừa rót rượu cho người đàn ông kia uống thử:

   - Băng: Chợ nào cũng phải đi bán rượu. Mình tự lấy ngô của mình nấu mà. Mình ở xã Bản Phố. Là nơi nấu rượu ngon lắm. Nhà mình nấu được 100 lít, bán 1 tuần được 400 nghìn thôi. Hôm nay chợ đông lăm, vui lắm, bán được 20 lít.

    Hàng rượu thơm nồng men rừng, thứ men tự chế từ hạt cây Hồng Mi của người Mông, còn bên hàng thổ cẩm thì rực lên sắc đỏ. Có cảm giác như lạc vào 1 rừng hoa đủ màu sắc, váy áo, túi, ví thổ cẩm, thôi thì đủ cả. Chủ hàng thổ cẩm có vẻ như bán buôn chuyên nghiệp hơn. Chị Nùng Thị Thư ở Na Thá, lưng địu con thơ mới 8 tháng tuổi. Ngày chợ phiên nào chị cũng đem thổ cẩm đi chợ bán. Chị bảo, chợ phiên Bắc Hà dạo này có nhiều khách Tây nên hàng bán được nhiều:

   -Băng: Tuần nào cũng đi bán hàng thổ cẩm. Không cấy thì đi chợ Cốc Ly, Khe Tám. Hai vợ chồng đi bán. Đang cấy, làm cỏ ngô là không đi được. Nếu đi chợ cũng có lúc được nhiều, làm cả năm rồi, hôm nào may thì bán được nhiều, cũng đủ ăn.

    Cũng như chị Thư, Ly Thị Seo ở xã Lù Thành, cách chợ 20 cây số, phiên chợ nào cũng có mặt. Và theo lời Seo thì hai vợ chồng bôn ba khắp các chợ phiên trong vùng.

   - Băng: Đi hết cả các chợ trong tuần, chợ Cán Cấu, chợ Si, chợ Bắc Hà. Những ngày không có chợ thì ở nhà làm túi để những ngày có chợ đi bán

   - Băng: Ly Thị Seo, 27 tuổi, Xã Lù Thành, 3 con, cách 20 km, Cái này tự làm hết, 3 cái thêu ba tháng đấy, Thêu 1 năm được 9 sải - Cái túi này bán bao nhiêu ? - Bán được 80, đẹp thì được 150 nghìn, Tuần nào có nhiều người mua thì được 800, 700, nếu không có ai mua thì đủ tiền xăng. Hôm qua đi chợ Cán Cấu, hôm nay mới đi chợ Bắc Hà. Một tuần ở đâu có phiên chợ là mang đến bán.

   Chợ đông kẻ bán người mua. Người có cả 1 sạp hàng. Nhưng cũng có nhiều người vượt hàng chục cây số về chợ cũng chỉ bán mỗi một cây khèn. Có người cắp nách chỉ một con gà trống. Chàng trai Mông Sùng Mí Chá xách hai cái lồng chim hoạ mi, đi bộ gần chục cây số về chợ. Và rất nhiều người tay không đến chợ, không mua gì và cũng chẳng có gì bán. Đi để ngắm người, để một ngày được sống trong vui nhộn, ồn ã cho bõ cả tuần lặng thầm nơi đỉnh núi, ngọn đồi như những cô gái Mông này chẳng hạn:

   - Băng: Hôm nay chủ nhật, các em đến chợ mua những gì?

   - Không mua gì cả, đến chơi thôi. Bạn này ở cùng thôn, em ở La Hối.

    - Cái này em đi mua hay tự làm lấy?

   - Tự làm, váy thì đi mua, hai ba tháng mới làm được một bộ.

    Người vùng cao đi chợ không phải chỉ để bán mua, giao thương thông thường, mà còn vì nhu cầu được gặp gỡ bạn bè, giao lưu tình cảm. Với họ đi chợ là đi hội. Nơi chợ đông mới cơ hội gặp gỡ, làm quen, giao lưu.. Thành ra ai cũng diện bộ cánh thật đẹp, thật mới. Nhiều mối tình đẹp khởi nguồn từ chợ phiên…Nhiều tổ ấm gia đình được nhen nhúm..

   - Băng Âm thanh chợ

    10 h trưa chủ nhật. Con đường từ thị trấn Bắc Hà vào chợ, người người vẫn nườm nượp đổ về. Làm nên vẻ đẹp ấn tượng của chợ Bắc Hà chính là phụ nữ với những sắc phục đủ màu. Đep nhất vẫn là trang phục của phụ nữ Mông Hoa. Váy xoè rộng như đuôi công với hai màu vàng, đỏ nổi trội, đầu cũng đội khăn thổ cẩm. Mỗi cô gái như một bông hoa sặc sỡ. Họ đi từng tốp, từng tốp, cười nói rôm rả, đi đến đâu là bừng sáng cả 1 góc chợ, cuốn theo những ánh mắt nhìn say mê, đắm đuối… Góp nên sắc màu chợ phiên Bắc Hà bây giờ không chỉ có 14 sắc phục dân tộc quanh vùng mà còn có rất nhiều du khách khắp nơi trong và ngoài nước.

    - Nhạc Sáo Mông vùng Tây Bắc nền

   MÓN ĂN CỘNG ĐỒNG

   Thưa các bạn. Ai đó rất có lý khi nói rằng, muốn biết đời sống kinh tế, văn hóa của một vùng hãy ghé vào chợ phiên. Đến chợ phiên vùng cao, bạn sẽ được thỏa mãn đôi tai, con mắt và nếu như gặp được người hay chuyện bạn sẽ có cơ may được khám phá rất nhiều chuyện thú vị về văn hóa của một cộng đồng. Bà con dân tộc thiểu số, nhiều người thông thạo tiếng phổ thông lắm rồi chứ không như trước kia. Một trong những yếu tố làm nên nét đặc sắc của chợ phiên vùng cao chính là văn hóa ẩm thực. Đã bao giờ bạn nghe nói đến món ăn có tên gọi là “thắng cố” chưa? Đây là món ăn độc đáo của người Mông chỉ có ở vùng Tây Bắc.

    Thắng cố là từ đã được gọi chệch âm đi rồi, thực ra phải gọi là thảng cố, theo tiếng Mông, nghĩa là nồi nước. Đó là một món canh thịt, nếu đó là thịt ngựa thì gọi là thắng cố ngựa, thịt bò thì gọi là thắng cố bò, còn nấu từ thịt dê tất nhiên là thắng cố dê. Theo lời người già thì ngày trước, người Mông chỉ chế biến thắng cố từ thịt ngựa, và chỉ bằng thịt ngựa mới ngon. Thế nên con ngựa đôi khi được gọi vui là “Con Thắng Cố”. Bây giờ, các phiên chợ vùng cao ở Lào Cai, Hà Giang có đủ loại thắng cố: Trâu, bò, dê, thậm chí là chó... Và thắng cố đã thành món đặc sản ở nhiều nhà hàng, khách sạn. Tuy nhiên, ăn thắng cố phải ở chợ phiên, giữa đông vui nhộn nhịp mới thực là ngon và đúng với tính chất “cộng đồng” của món ăn này.

    - Băng âm thanh chợ khu ẩm thực

   Tại một góc chợ Bắc Hà, chảo thắng cố bốc hơi nghi ngút, thơm một mùi thơm khiến cho người ta phải thèm ăn, chủ hàng là người đàn ông trung niên rất vui tính tên là Thèn văn Nùng. Thực khách ngồi ăn ngay tại chỗ quanh những cái bàn thấp tè. Anh Nùng bảo cả chợ chỉ có hàng nhà anh chuyên thắng cố trâu:

   - Băng: Trâu thịt nó cứng hơn thịt bò, ngựa, nó ngọt hơn, gia giảm mình cũng phải khác hơn, sả, thảo quả, hoa hồi, quế, lá chanh, lá hẹ, hạt dổi. Tuần nào tôi cũng bán ở chợ này, chỉ có thắng cố trâu. Mình có cách hãm đừng cho nó có mùi, lúc nào cũng đông khách.

   Hàng thắng cố ngựa của anh Tráng Trọng Long, người dân tộc Mông cũng đông không kém. Theo anh Long thì chế biến thắng cố không có gì gọi là phức tạp. Thịt, xương, và cả "lục phủ ngũ tạng" được chặt ra thành từng miếng, cho vào một cái chảo gang, chất củi đun sôi sùng sục cho đến khi tất cả đều mềm, ngấm mùi gia vị. Gia vị nấu thắng cố là những gì? Anh Tráng Trọng Long rất vui khi được khoe món ăn đặc trưng của dân tộc mình.

    - Băng: Nấu thắng cố, nói chung gia vị rất nhiều, thảo quả, hoa hồi với lá thắng cố, quan trọng nhất là lá thắng cố

   - Lá thắng cố tôi thì tôi nhìn thấy nó như là hẹ ở dưới xuôi

   - Đúng rồi, nó có mùi rất thơm - Rất đặc biệt, nếu 1 nồi thắng cố mà nó không có cái lá này thì nó không thành thắng cố?

    - Vâng ạ, nó là lá thắng cố luôn. Thịt ngựa mình chặt ra rồi mình thái như thái đậu phụ ấy, ướp những gia giảm như thảo quả với hoa hồi với lá thắng cố này rồi cho vào nồi ninh, ninh nhừ, song là được ăn luôn.

    Tôi có cảm giác như mụ mị đi bởi mùi thơm nồng cực kỳ quyến rũ của gia vị bốc lên từ chảo thắng cố ngựa này. Chẳng cần bảng hiệu quảng cáo, chẳng cần mời chào ỏm tỏi mà các hàng thắng cố lúc nào cũng đông đúc người ăn. Tất nhiên, ăn thắng cố, nhất là đàn ông, không thể thiếu chén rượu uống cùng bạn bè. Nguyễn Trọng Hùng hể hả: 

    -  Băng: Thắng cố là món ăn của đồng bào dân tộc Mông, là món ăn đặc trưng. Món thắng cố này thì, ăn nó rất là dễ ăn, cái thứ hai nó là cái món thập cẩm có cả lòng cả thịt, cho nên rất hợp cho những người uống rượu

   - Cái chính là cho người ta gặp gỡ trò chuyện lai rai?

   - Vâng, thắng cố là 1 trong những chỗ tập trung đông nhất để anh em giao lưu. Những cái chợ vùng cao thì những phiên chợ vào chủ nhật thì lúc nào cũng có thắng cố.

   Xem ra món thắng cố của người vùng cao cũng quyến rũ khá nhiều thực khách từ phương xa từ miền xuôi lên:

   - Băng: Hương vị món thắng cố này không thể tả được, nó ngọt, thơm, lạ, nó có riêng hương vị Bắc Hà - Rất là ngon, lần đầu tiên ăn, có cảm giác, thắng cố ấn tượng. Nó đặc biệt, chỉ có mỗi nơi này có thôi, rất là ngon, cay cay mắt một tí, ngồi bàn thấp thấp, chỉ cần 1 bát, 1 chén rượu là đủ ngon rồi.

    Đó là cảm nhận của anh Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Hải Đăng, những du khách tôi gặp ở chợ Bắc Hà. Và không chỉ có các du khách mà hàng thắng cố còn là điểm đến của rất nhiều đàn ông, phụ nữ, con trẻ. Chỗ thì toàn đàn ông vui bạn bè, đãi đằng nhau. Chỗ thì cả gia đinh vợ chồng con cái quây quần. Người Kinh, người Mông, người Tày, cả Tây ba lô, đều tìm đến chốn này. Hai vợ chồng người Mông bán gà xong, dắt con vào hàng thắng cố. Chị vợ lấy túi mèn mén ra, mua bát thắng cố, chan vào, thế là cả nhà được bữa trưa ngon lành. Thắng cố không chỉ là món ăn ngon, dân dã mà đó còn là cái cớ để anh em bạn bầu gặp gỡ, hàn huyên. Đến các chợ phiên vùng cao, chỗ nào đông vui nhất, thế nào cũng có chảo thắng cố. Các chợ phiên vùng cao ở Lào Cai, Hà Giang nơi tôi đến, hầu như đều có thắng cố, như thể không có thắng cố thì không thành chợ vậy! Thắng cố thường ăn bằng bát to và nhất thiết phải có bạn để hỏi thăm chuyện gia đình, nương rẫy, để mời nhau bát rượu ngô. Tình bạn cũng nảy sinh bên chảo thắng cố. Hợp nhau là say bí tỉ. Tôi thấy thật có lý khi ai đó khái quát rằng: “Thắng cố là món ăn dân dã, đại chúng, mang tính cố kết cộng đồng, làm cho người ta nhanh gần nhau hơn và dễ hiểu nhau hơn. Cao hơn một món ăn, đó còn là nét văn hoá mà qua đấy, ta thấy rõ những chuẩn mực ứng xử, tập tục và truyền thống văn hoá của một dân tộc giữa nhiều dân tộc, trong một phạm vi không gian giao tiếp rộng rãi và khoáng đạt”..

   - Nhạc khèn, sáo Tây Bắc

   Thưa các bạn. Ở Lào Cai, Chợ Bắc Hà họp một tháng bốn phiên vào mỗi sáng chủ nhật, chợ Cán Cấu họp vào ngày thứ 7… Chợ Cốc Ly cũng là phiên chợ đáng để bạn khám phá. Chợ phiên được coi là sinh hoạt văn hóa tinh thần đặc sắc và không thể thiếu của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao phía Bắc. Chắc chắn bạn sẽ có cảm nhận của riêng mình. Tôi cũng vậy, tôi thích nhất là được trò chuyện, kết bạn, giao lưu ở chợ phiên, người vùng cao thật hồn hậu. Còn đây là những nhận xét của bạn Thu Trang, chúng ta cùng chia sẻ.

    LẠ LÙNG CHUYỆN BÁN MUA

    Đến các chợ phiên vùng cao, điều khiến tôi thích thú không chỉ là những âm thanh, sắc màu rất đặc trưng mà là cái cách mua bán của người vùng cao. Có một cái gì đấy chân chất, mộc mạc, thân tình. Hiếm khi thấy người ta to tiếng, tranh mua tranh bán ở chợ. Còn nhớ lần đi chợ Sa Pa, mấy cô bé người Mông đi theo mời mua những chiếc dây đeo tay dệt bằng thổ cẩm. Tôi ngần ngừ. Cô bé lưng cõng em, nói tiếng Kinh khá là thạo nằn nì: “Chị mua đi, đẹp lắm” rồi săng sái đeo vào tay tôi…Hỏi bao nhiêu tiền? “Hai nghìn thôi!”. Không lấy thừa, và cũng không thể ít hơn. Thế nhưng khi đã thân quen rồi, cô bé đã tặng cho tôi cả nắm, cũng không nói dài dòng, chỉ một câu : “Mang về làm quà tặng cho bạn bè”. Trả tiền thì nhất định không cầm tiền. Sòng phẳng lắm, bán là bán, đã cho là cho luôn. - Băng âm thanh ồn ào thu ở chợ Hàng thổ cẩm được bày bán ngay bên lề đường, bạn tha hồ xem, kể cả bởi tung lên mà chọn, rốt cuộc, bạn chả ưng cái nào cũng không sao, chị phụ nữ Mông tên Sùng Thị Mỷ bán thổ cẩm vẫn tươi cười. Thậm chí nếu bạn muốn biết quy trình làm nên tấm thổ cẩm đó ra sao, chị cũng sẵn lòng kể cho bạn nghe ngay lập tức. Có vẻ như chị Mỷ không quan trọng lắm cái việc có bán được hàng hay không mà rất lấy làm hãnh diện vì có người thích tìm hiểu về đồ thêu của dân tộc mình. Câu chuyện giữa chúng tôi cứ ngắt quãng vì có người hỏi mua hàng. Mua bán xong, lại chuyện. Có vẻ như bán không phải là mục đích tối thượng ở những con người thuần phác này, mà cái chính là để vui với cảnh chợ, vui với cả khách mua. Không nhăn nhó, khó chịu vì bị làm phiền. Cho nên đôi khi chỉ cần đến chợ phiên, bạn sẽ thu thập được khá nhiều thông tin về cuộc sống bản làng. Và không chỉ được nghe kể, bạn còn được xem bà con người Mông, người Dao trực tiếp làm ra những sản phẩm thủ công ngay tại chợ như đồ thêu thổ cẩm, đồ rèn đúc. Có câu chuyện về 1 người đàn ông Mông đi bán mèo. Hỏi con mèo này có bắt chuột giỏi không? Anh thật thà: “Chuột thì không bắt đâu, nhưng gà thì cứ phát một, phát một”. Cứ theo thiển ý của tôi thì có ai còn muốn mua mèo của anh nữa! Nhưng người vùng cao là thế. Không nói dối, hàng xấu bảo là xấu, đồ tốt nói là tốt, không lèo lá, lừa lọc. Đến khu vực bán ngựa ở chợ Bắc Hà, tôi mới thấy đúng là chuyện bán mua ở đây thật lạ. Thật thú vị. Rõ là người đàn ông kia đã ưng ý con ngựa của anh Vàng Seo Pu, người Mông ở Bản Phố, đã quyết mua rồi, ngã giá rồi, đồng ý bán với giá 3 triệu đồng rồi, vậy mà Vàng Seo Pu còn chần chừ mãi. Khi người đàn ông kia bực tức bỏ đi, tôi dò hỏi: “Sao lại không bán?”, Seo Pu mới bộc bạch: “Tự dưng thấy không thích bán ngựa cho nó”, thế thôi. Tự dưng thấy không thích thì không bán dù chỉ là linh cảm. Tìm hiếu tôi được biết, với người Mông, đi bán ngựa không phải chỉ cần tiền mà còn kén cả người mua theo kiều: “Chọn mặt gửi ngựa”. Người mua ngựa của mình có tử tế, có là người tốt thì bán, không thì thôi. Chuyện mua bán tưởng chỉ cần gặp nhau ở giá cả, hóa ra còn biết bao điều khác nữa…Chợ vùng cao thẫm đẫm chất nhân văn là vậy!

   - Nhạc nền “Đi chợ Sa Pa…”

    Bạn ở thành phố, hay vùng đồng bằng, phương tiện đi lại của bạn là gì? Xe đạp, xe máy, hay ô tô? Với người vùng cao trước đây cũng như bây giờ, phương tiện đi lại thuận tiện nhất vẫn là ngựa. Bởi nhiều nơi, đèo cao dốc đứng, chỉ có thể đi bằng ngựa. Bất kỳ một phiên chợ vùng cao nào, ngoài bãi để xe ra còn có 1 bãi dành riêng cho các chú ngựa thồ. Ngựa với người vùng cao không đơn thuần là thứ phương tiện chở hàng hóa mà đó còn là bạn tri kỷ. Chả thế mà người vùng cao rất thấu hiểu tâm tính của loài vật này. Có thể bạn đã biết thế nào là một con ngựa hay, nhưng cách chữa bệnh tương tư cho ngựa thì tôi tin là bạn chưa tỏ tường đâu..Vậy thì đừng vội tắt radio...hãy tiếp tục theo dõi chương trình cùng chúng tôi.

    MÓNG NGỰA CHỮA BỆNH TƯƠNG TƯ…?

    Anh Vương Văn Triển, người dân tộc Tày ở xã La Hối, Bắc Hà, Lào Cai bảo rằng: Từ bé đã thấy nhà mình, bản mình có nhiều ngựa. Ngựa thồ thì thường là ngựa đực. Đơn giản vì ngựa đực khoẻ gấp nhiều lần ngựa cái. Đi mua ngựa phải biết chọn ngựa hay, ngựa qúy. Người “sành” ngựa chỉ nhìn qua là biết.

    - Băng: Ngựa tốt thì chọn độ cao này, chân sau phải thẳng, móng dày, móng đứng thì ngựa mới khoẻ, chân ngựa mà cong cong thì ngựa không ra gì rồi. - Độ cao ấy mình phải đo hay ước chừng thôi? - Ngựa nó tầm khoảng mét 2, mét 3. Bờm nó phải dựng, cằm nó phải rộng ngựa mới tốt, ngực nở thì ngựa mới khoẻ. Con ngựa ngực nó hẹp thì thồ hàng không khoẻ.

    Ngoài ra, “dung mạo” chàng ngựa cũng phải kha khá. Ngựa có “dung mạo” được coi là đẹp phải có mũi khô, mắt sâu, sáng, răng đều, lông óng mượt, đuôi dài. Đặc biệt, chọn được con nào có xóay tròn ở tai thì yên tâm về khỏan trí tuệ của ngựa. Dân sành ngựa truyền nhau rằng, những con có xóay tròn ở hai tai là rất thính, nghe được từ xa, lại biết đâu là tiếng chủ, đâu là tiếng người lạ, thậm chí biết được xung quanh có thú dữ, hoặc kẻ xấu rình rập. Đi vào đoạn đường ngựa linh tính thấy có tai ương là y như rằng chúng “quyết” không đi, đòi quay đầu lại bằng được. Đó là ngựa cực quý! Cái xóay tròn trên mình ngựa là những tín hiệu mách bảo ngựa khôn ngoan hay đần độn. Có xóay ở hai tai đã là qúy, con nào có xóay tròn ở hai gối trước thì lại càng qúy hơn, nó không những có “trí” mà còn có “tâm”, rất trung thành với chủ. Nếu tìm được con ngựa hai tai có xóay tròn, 4 gối cũng có xóay tròn thì bạn đã có vàng ròng ở trong nhà rồi đấy! Nhưng theo lời anh Vương Văn Triển, loại này cực hiếm, khó tìm. Nói về nết ăn thì ngựa là giống… “ăn vặt” vô địch! Một khi không đi chở hàng, nó ăn suốt ngày suốt đêm, lúc nào cũng bỏm bẻm nhai cỏ và nhai không ngừng nghỉ. Anh Triển “nói xấu” con ngựa nhà mình:

   - Băng: Ngựa mà không đi làm thì nó ăn suốt đêm suốt ngày luôn. Nó không có dạ dày, có mỗi cái lòng già thôi thì ăn đến đâu nó tuột đến đấy luôn mà ăn suốt đêm nó cũng ăn được. Bình thường không làm nó ăn gấp đôi lúc làm. Ví dụ nó làm nó chỉ ăn 15 mớ cỏ bằng này thôi, nếu ở không nó phải ăn 30 mớ bằng ấy.

    Có vẻ như đúng với câu của dân gian: “Nhà giàu tham việc, thất nghiệp tham ăn”! Về khoản trí nhớ thì ngựa thật tuyệt vời. Chỉ cần chất hàng lên lưng, chở đến công trường, dù xa đến mấy, đường ngoằn nghèo, lắt léo đến đâu nhưng khi “mã hồi”, chủ chẳng cần để ý, cứ đánh 1 giấc ngon lành là ngựa chở về tận nhà, không bao giờ sợ lạc đường. Về đến nhà, lại chất hàng và quất roi lên đường, thế là ngựa lại đi đúng con đường cũ, đến công trường. Nan giải nhất vẫn là chuyện ngựa “yêu”, anh Triển bảo: “Mình nuôi ngựa thồ nên phải hết sức đề phòng bọn ngựa cái. Không cho các nàng sán đến gần chàng ngựa nhà mình, và tuyệt đối không cho bọn chúng ngửi nhau. Không nhìn thấy nhau thì thôi, một khi gặp nhau, rồi hít hít, ngửi ngửi thì chúng sẽ phải lòng nhau, như ăn phải bùa mê thuốc lú, “động hớn” lên thì khó “giải” lắm”! Chàng nâu nhà anh có lần phải lòng một nàng ngựa trắng, bị cấm cản, không cho gần nhau, thế là chàng nâu mắc bệnh tương tư, bỏ ăn ba ngày liền. Cỏ non cũng mặc, ngô tươi cũng không thèm, cháo cám cũng ngó lơ. “Nó dỗi đấy! Mình phải chế thuốc cứu nó, nếu không nó bỏ ăn lâu, nó yếu đi thì mình sạt nghiệp”. Chế thuốc chữa bệnh tương tư cho ngựa xem ra cũng không mấy phức tạp. Có vẻ như đã phổ biến trong “toàn ngành chăn nuôi ngựa” ở vùng cao, nên anh Triển chả cần bí mật:

   - Băng: Nó động đực mà con đực không cho theo nó cũng bỏ ăn. Mình phải đi cắt móng của con ngựa đực, đốt thành than, xông nước cho nó uống thì nó mới ăn. Kể cả ngựa đực cũng thế, nó không được đạp mình cũng phải cắt móng con ngựa cái, cắt móng xông nước cho uống thì nó hết.

    Rất hiệu nghiệm, uống xong, ngựa quên liền, chả còn nhớ nhung, quyến luyến gì sất, lại ăn cỏ bình thường, lại lúc cúc thồ hàng chăm chỉ. Từ cái đận ấy, ra đường, hễ thấy bóng ngựa cái là anh Triển lẳng lặng quất roi, cho chàng nâu rẽ sang ngả khác. Xa một chút nhưng an toàn! Nhớ đường là thế, nhưng một khi nhìn thấy ngựa cái, trót ngửi ngửi, hít hít là bọn chúng không biết đường mà về nhà nữa! Anh Triển không muốn cho chàng nâu “yêu” vì một lý do rất chi là …ích kỷ. Anh tính toán:

    - Băng: Nó nhảy ngựa cái thì nó mệt bằng 3 ngày đi làm, mệt hơn 3 ngày đi làm. Nó nhảy ngựa cái 1 lần, mình cân nó phải hao đến 20 cân. Như ngựa nuôi ở nhà 5- 6 năm chưa bao giờ cho theo ngựa cái đâu. Nó mà đi theo ngựa cái về nhà nó hớn đực thì 2-3 ngày nó không ăn luôn. - Nó mà không nhìn thấy ngựa cái thì thôi? - Không nhìn thấy thì thôi, bình thường. Nó đã ngửi nó hớn đực mà nó không được đạp thì nó không ăn luôn. Nó động đực không cho theo thì thôi, nó không ăn, nó dỗi. Em đi thồ mà họ đến xin giống cho tạ thóc cũng không cho, không thấy. Đang thồ công trình mà cho theo thì mình không thồ được, hỏng luôn mà.

    Cứ xem cái cách anh Triển vỗ vỗ vào má chàng nâu, chải bờm cho nó, còn chàng nâu thì cúi đầu dụi dụi vào tay chủ, mới thấy ngựa với người miền núi thật như thể bạn tri kỷ.

   Và những chuyện vui về ngựa của người miền núi đã khép lại chương trình GLVH hôm nay. Minh Huệ thực hiện chương trình cùng Thanh Tuấn và Đỗ Minh.. Cảm ơn các bạn đã lắng nghe.

MẮM ĐI TRƯỚC RƯỚC ĐƯỚC LÊN

minhhuevov | 31 March, 2009 23:28

   MH vừa ở Đất Mũi về. Đi xuồng cả tiếng đồng hồ ra đến "gót chân hồng Đất Mũi Cà Mau". Rưng rưng trên mảnh đất cuối trời.
 
 
      
      Thích nhất là cây đước với bộ rễ chùm "hầm hố". Thích cả chuyện đước, mắm cưu mang nhau giữ đất, lấn biển.

      Mắm và đước có công lớn trong “công cuộc” lấn biển, phát triển rừng ngập mặn nơi đất phương Nam. Mỗi năm mũi Cà Mau lấn ra biển 80 đến 100 m phần lớn nhờ hai loài cây này.
     

      Rễ mắm lạ lắm, toàn mọc ngược, dày đặc, chĩa thẳng lên trời chứ không chui xuống đất. Phù sa vì thế mà có nơi neo đậu, bám víu vào, lắng đọng thành bùn đất.
      Rễ đước mọc thành chùm lớn, khum khum như trăm nghìn chân cua, xuyên xuống, quắp sâu vào đất, giữ chắc lấy đất.
      
      Lá đước xanh đậm.
      Lá mắm nhạt hơn, nhìn từ xa như có hai màu, mặt trên của lá màu xanh, mặt dưới của lá ngả sang màu xanh trắng. “
      
      Mắm đi trước, rước đước lên” là câu chuyện làm quà đầu tiên của người dân đất Mũi kể cho khách xa.
      Này nhé, quả mắm già rụng xuống, nảy mầm, mọc rễ trong nước, dạt vào các bãi lầy, sinh sôi. Khi cây mắm về già, tàn lụi, cây đước lập tức chiếm chỗ ở của mắm, sinh con đẻ cái, “gây dựng cơ đồ”...
      Nhưng đước cũng “biết điều” lắm, chả cướp không nhà của mắm.
       Đước có lợi thế về mặt hình thể, với bộ rễ chùm cực kỳ “khủng bố”, nom như những con cua khổng lồ gồng mình lên đỡ thân cây, bám sâu vào đất. Ấy thế nhưng loài đước lại rất kém cỏi trong việc duy trì hạt mầm tương lai của mình nên phải “trông cậy” vào mắm.
       Số là hạt đước rụng xuống, chả chịu chìm mà cứ lềnh bềnh trên mặt nước. Sóng gió, thuỷ triều dễ dàng cuốn phăng “tương lai” của đước ra biển. May mà có anh hàng xóm láng giềng tốt bụng là cây mắm. Hạt mắm rụng là chìm ngay xuống, mọc rễ ngay trong nước mặn. Rễ mắm tua tủa, đồng loạt ngoi lên. Hạt đước rơi xuống nước được rễ mắm “cưu mang”, “bồng bế”, cho đến khi “uống no nước”, đủ nặng để chìm xuống, nhú mầm.
      Trả cái ơn sâu này, đước ta khi trưởng thành lại dùng bộ rễ chắc chắn của mình giữ cho rễ mắm vốn yếu hơn không bị sóng cuốn, gió nhổ. Cứ thế, mắm và đước sát cánh cùng nhau lấn biển, mở mang đất đai và duy trì màu xanh Đất Mũi.
     

      Thân đước già dùng vào ối việc, gỗ thì làm ván sàn, làm đũa, làm thìa, vỏ đước dùng để nhuộm lưới, than đước làm chất đốt…
      Gỗ mắm thì chả có công dụng gì đáng kể ngoài việc làm củi đun. Thế nhưng, quả mắm là thức ăn tuyệt vời cho các loài cá, nhất là cá dứa. Mùa quả mắm rụng, cũng là mùa cá dứa béo, thịt thơm ngon, tịnh không có mùi tanh nào.
      Nếu còn hồ nghi, bạn cứ 1 lần về Đất Mũi mà xem...
   

RỪNG LÀ NHÀ CỦA TỔ TIÊN

minhhuevov | 23 March, 2009 22:37

   Ở nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, có những cánh rừng nguyên sinh được gọi là “rừng cấm" hoặc "rừng thiêng". Những khu rừng này được bảo vệ không phải bằng các quy định của pháp luật mà bằng các "luật tục" mang tính thần bí và thiêng liêng của từng cộng đồng. Vì thế, mặc dù không hề có biển "cấm chặt phá", nhưng không ai dám cả gan xâm phạm. Người Pu Péo ở Hà Giang còn quan niệm, “rừng là nhà của tổ tiên”. Thật là lạ phải không? Mời bạn cùng MH gặp gỡ những người con của dân tộc Pu Péo ở Phố Là, Đồng Văn, Hà Giang.. .

   Xuyên qua cao nguyên Đồng Văn ngút ngàn đá, vào đến Phố Là cảm giác khác hẳn. Mắt không còn nhưng nhức bởi 1 màu đá xám. Bước vào ngôi nhà lợp ngói máng đặc trưng của người Pu Péo, tôi còn nghe thấy tiếng chim lách chách chuyền cành ngay trước cửa. Sáng mùa đông, sương như một tấm khăn lớn màu trắng, choàng lên cánh rừng thâm u. Xóm Củng Chá của người Pu Péo tựa lưng vào rừng già từ bao đời nay. Cánh rừng ấy, nhiều cây to tay người ôm không xuể, dây leo nhằng nhịt… Anh Củng Chẩn Tráng khoát tay giới thiệu: Đó là rừng thiêng, rừng cấm của người Pu Péo. Và đã là rừng thiêng, rừng cấm thì không ai được chặt cây, lấy củi, cho dù đó là cây đổ, cây khô:

    - Riêng cái rừng thiêng ít khi có người vào chặt lắm. Có người vào mà vía yếu 1 tý là có người bị đấy. Bị ốm đấy. Riêng đến bây giờ tôi được nhìn thấy là có 2 trường hợp, người chặt cái rừng thiêng về bị như thế. Sau đó phải hoàn lại theo cái lễ của nó rồi mới khỏi.Có 2 trường hợp ngay xã đây, vào rừng lấy củi bị như thế. Sau họ lại hoàn trả lễ thì khỏi

   - Thế có nghĩa là cái rừng thiêng ấy là cấm không ai được vào?

   - Vào được nhưng cấm không được chặt phá, không được tiểu tiện, đại tiện vào đấy.

    Cho đến nay, người già vẫn truyền lại cho con cháu chuyện 1 nhà kia lén lút vào rừng cấm chặt về làm nhà, chẳng bao lâu, ngôi nhà ấy bị đá lăn làm sập. Rồi ngay trong xã có hai người vào rừng cấm chặt cây thế là về bị ốm thập tử nhất sinh. Những câu chuyện cứ thế lưu truyền đã khiến cho rừng thêm rậm rạp. Thậm chí người Pu Péo còn nhắc nhau: Phải giữ cho khu rừng thiêng ấy thật sạch sẽ, trong lành, vào đến đấy, không ai được tiểu tiện vào đó thậm chí không được nhổ nước bọt. Sở dĩ có những quy định ngặt nghèo ấy là vì: theo quan niệm của người Pu Péo thì khu rừng cấm là nơi ngự trị của các thần, thần Rừng, thần Núi, thần Đất, thần Trời.. cho nên không được làm bất cứ điều gì khiến cho thần nổi giận. Tôi đã rất ngạc nhiên khi anh Củng Phủ Xuẩn giải thích rằng thần rừng đối với người Pu Péo chính là tổ tiên của mình:

   - Các thần này cũng là các cụ mình, tổ tiên mình thôi, sau già, quá cổ rồi thì không nhớ được tên nữa mình mới đặt lên bàn thờ, đưa vào rừng thờ, theo các phong tục các cụ để lại. Mình đi đến đâu vẫn phải thờ cúng, mời. Cái xóm này mà chuyển đi khu vực khác là mình cũng phải mời ông cụ này đi theo, đặt lên rừng cao.

    Các dòng họ người Pu Péo chỉ cúng tổ tiên 5 đời trở lại trong nhà mình; còn tổ tiên trước 5 đời ttrước đó theo ông Củng Diu Pháng thì “không theo mình đâu, mà các cụ thường ở trong rừng, ngụ tại các gốc cây to”. Rừng thiêng chính là ngôi nhà của tổ tiên vậy. Nếu ai dám xâm phạm, phá ngôi nhà của tổ tiên là đắc tội lớn, sẽ bị làng phạt theo luật tục:

    - Cái này rừng thiêng, ai phá, cả xóm ấy người ta phạt chứ. Lúc đầu cũng tuyên truyền giáo giục, nếu lần thứ hai thứ ba là phạt, phạt trâu, bò, theo trị giá, ví dụ anh phá nhiều thì trị giá bằng con trâu, 5-6 triệu hoặc 2,3 triệu theo giá thị trường, hoặc là lợn, dê.

    Và không phải chỉ nộp phạt “hành chính” thế là xong, người vi phạm còn phải làm lễ tại lỗi với thần rừng vào ngày cúng rừng mùng 6/6 âm lịch hàng năm:

   - Hàng năm, mùng 6/6 anh phải mua dê cho làng cúng lại, mời thầy về cúng ví dụ anh đốt vào rừng thiêng, anh phải chịu trách nhiệm anh phải mua con dê về, 1 đôi gà về làm lễ báo cho cụ bảo là thằng này nó lấy nhầm, xin lỗi các cụ, lần sau không lấy nữa.

   Tôi cứ nghĩ, chỉ không được lấy củi, không được làm bậy, làm bạ trong rừng thiêng rừng cấm thôi, chứ còn những khu rừng khác thì không đến nỗi ngặt nghèo, nhưng theo anh Củng PhủXuẩn:

   - Rừng đầu nguồn là rừng chung rồi, mấy đời này nó vẫn cứ quản không được vào. Đã là rừng đầu nguồn, rừng thiêng rồi bọn em không cho phép ai vào vì là nguồn nước, nó phân bổ chỗ nào anh chị được lấy thì mới được lấy, còn không thì cấm. Tại vì cái dân tộc em có 60,9 ha rừng khoanh nuôi, có cái dự án ấy , không cho chặt.

   Bất kỳ người dân Pu Péo nào cũng tự hào, 1 niềm tự hào chính đáng rằng: nơi nào có người Pu Péo ở thì ở đó rừng mãi tươi xanh. Không chỉ giữ rừng, bảo vệ rừng mà người Pu Péo còn tích cực phát triển vốn rừng:

   - Tại vì  chỉ có người Pu Pép ở thì mới giữ được rừng, nếu không thì không thể nào giữ được. Vì hàng năm bọn em vẫn phải trồng mà, mùng 6/6 đến cái ngày cúng rừng thì bọn em có thời gian thì bọn em lại đi giồng thêm vào, cây khô nó già nó đổ, cây khô nó rơi xuống, bọn em cũng không được lấy.

    - Đấy là trong rừng thiêng thôi, còn những nơi khác vẫn được chatự củi chứ?

    - Trong rừng bình thường, bọn em chỉ lấy cành, cây nó con. Bọn em vẫn có rừng khác, cây nào cạnh nương thì có thể đi tỉa để đun.

    Trò chuyện với người già, người trẻ ở xóm Củng Chá này, tôi nhận thấy ai nấy đều thấu hiểu cánh rừng, con suối có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống con người, như anh Củng Phủ Xuẩn:

   - Em nghĩ giữ được rừng thì được cái môi trường, cái thứ hai nữa là được cái cảnh đẹp vì nước nguồn, bọn em không dám lấy vì bọn em sợ thiếu nước. Vì Pu Péo ở đâu là phải có ruộng, sợ thiếu nước, có rừng mới có nước được. Anh mà phá rừng đi thì không có nước tưới tiêu mùa vụ. Hàng năm cấy lúa thì có nhờ vào rừng cho nên mới thờ rừng.

    - Có nghĩa là xuất phát từ nhận thức rất rõ rằng: rừng cho người Pu Péo, thứ ăn, nguồn sống?.

    - Vâng. Có rừng mới có sự sống, mới có nước cho cả dân hưởng cho nên bọn em không có chặt, dân Mông, dân Hoa lên bọn em cũng cấm hết, không được chặt. Họ trộm không bắt được mới phải chịu.

   Vào mùa khô, hầu như đến vùng nào của cao nguyên Đồng Văn cũng thấy cảnh khô khát, người dân cõng can nhựa đi hàng cây số mới hứng được tí nước nhưng người Pu Péo ở Phố Là thì vẫn ung dung. Ông Củng Diu Xuyền bảo: Trong rừng kia có ba thác nước to đổ quanh năm. Rừng cho con người, cho ruộng, nương của Phố Là sự sống là vậy. Cho nên người Pu Péo còn áp dụng luật tục bảo vệ rừng với cả các dân tộc khác nếu chặt phá rừng thiêng, rừng đầu nguồn:

   - Ai mà phá rừng bọn em có luật phạt 50 nghìn /địu. Bọn em bảo vệ nên dân cũng ít khi chặt trộm

   - Người PP thì có ý thức bảo vệ rừng rồi thế nhưng mà những dân tộc sống xen kẽ với người PP như người Hoa, người Mông, khi người ta xâm phạm rừng thì người PP có cách nào để tuuyên truyền, để người ta cũng biết bảo vệ rừng như mình?

   - Có, hàng năm em là 1 trưởng thôn, hàng năm xuống giao ban thì em cũng nhắc nhở báo cho các trưởng xóm không được phá rừng mà phải bảo vệ rừng tốt. Giao ban thì cũng phải nói trong cuộc họp rừng thiêng bọn tôi các ông không được động vào, cái thứ hai nữa rừng đầu nguồn, còn chỗ đồi trọc ác anh trồng được thì các anh tỉa cành thoải mái, còn đầu nguồn, rừng cấm thì tuyệt đối không ai được vào. Họp xóm thì lại đi giải thích cho dân nghe, tuyên truyền về rừng, không được chặt phá.

   Bây giờ thì tôi hiểu vì sao Phố Là ngàn ngạt một màu xanh. Phố Là có 7 thôn, xóm thì cả 7 đều có rừng. Người Pu Péo sống hoà thuận với thiên nhiên, với những cánh rừng từ những triết lý của riêng mình rằng rừng là ngôi nhà của tổ tiên, rừng là nguồn sống bền vững cho cả đời con đời cháu….

CHUYỆN VỀ NGƯỜI ĐÀN BÀ TUYỆT VỜI

minhhuevov | 24 February, 2009 22:50

   8-3 đã cận kề. Xin kể 1 câu chuyện về Người Đàn Bà tuyệt vời tặng cho tất cả các đấng mày râu đã, đang và sẽ có Người Đàn Bà tuyệt vời của mình. Chuyện này MH được thầy giáo dạy văn học Ấn Độ kể cho nghe từ thời học đại học, nhớ lõm bõm nên có thể ghi ra chưa thật đầy đủ. Nếu “đấng bậc” nào có được Người Đàn Bà hội đủ những “phẩm chất” liệt kê sau đây thì “lên tiếng” để cùng chia vui nha….

   Thuở mới sinh ra trời đất, ông thợ Tạo Hóa đến lúc thấy cần phải tạo ra Người Đàn Bà. Trong khi tiến thoái lưỡng nan, thợ Tại Hóa lặng lẽ suy nghĩ hồi lâu rồi gom góp các chất liệu để tạo ra người đàn bà. Tạo Hóa  lấy vẻ đầy đặn của mặt trăng, đường uốn cong của các loài dây leo, dáng run rẩy của các loài cỏ hoa, nét mềm mại của loài lau cói, màu sặc sỡ của nhị hoa, điều nhẹ nhàng của chiếc lá, nỗi xót xa của tầng mây, luồng biến động của cơn gió, tính nhút nhát của con hươu rừng, sắc lộng lẫy của con chim công, hình nhuần nhuyễn của cằm chim yểng, ánh rực rỡ của mặt trời, cảm giác tinh vi của vòi voi, cái nhìn đăm chiêu của mắt nai, sức nóng bỏng của lửa, khí lạnh lẽo của băng tuyết, tiếng hót của chim khách, tiếng kêu của chim quyên, đức trung trinh của chim uyên ương, lòng tàn nhẫn của hùm beo, nét dối trá của cò vạc, đem mọi thứ ấy trộn đều, nặn thành Người Đàn Bà và đem đến cho Người Đàn Ông.

   Chỉ được ba hôm, Người Đàn Ông đến phàn nàn với thợ Tạo Hóa:

   - Cái người mà Ngài giao cho tôi làm cho đời sống hàng ngày của tôi rất đỗi đau khổ. Mồm bà ta nói luôn luôn như phách, lúc nào cũng sán lấy tôi, không chịu rời tôi nửa bước, thành ra bao nhiêu thì giờ vàng ngọc của tôi phải dành cho bà ta hết. Lúc lại đùa nghịch làm cho tôi không chịu nổi, đôi lúc lại còn hờn giận, khóc lóc vu vơ. Thôi thôi, tôi trả bà ta cho Chúa. Tôi không thể kham được nữa.

   Thợ Tạo hóa nói: “Ừ được thôi! Và nhận Người Đàn Bà ở lại.

   Sau bảy hôm, Người Đàn Ông kia lại đến năn nỉ với thợ Tạo Hóa:

   - Từ khi trả Người Đàn Bà cho Chúa đến nay, tôi thường có cảm giác cô đơn, hiu quạnh. Tôi nhớ những lúc nàng nhảy múa cho tôi xem. Giọng nói của nàng nghe âm nhạc, ánh mắt rất nồng nàn, dáng hình rất uyển chuyển, thân thể rất mềm mại…Khi đi chơi, nàng sát lại gần tôi âu yếm. Ngài cho tôi xin lại Người Đàn Bà ấy.

    Thợ Tạo Hóa nói: “Ừ, tốt lắm”.

   Nhưng chỉ được ba hôm, Người Đàn Ông lại đến năn nỉ với thợ Tạo Hóa:

    - Thưa ngài, làm cho tôi vui sướng thì ít mà đau khổ, phiền não thì nhiều. Thôi, lần này tôi xin trả bà ta cho Chúa thật. Xin Ngài nhận lại cho. Tôi không thể, không thể nào kham được nữa.

   Lần này thì thợ Tạo hóa kiên quyết:  “Việc nhà anh mặc xác anh. Anh tự đứng ra mà giải quyết lấy, ta đây không biết” và thản nhiên đi làm công việc của mình.

    Người Đàn Ông đứng lặng một mình không tiến, không lui, miệng lẩm bẩm: “Việc này làm thế nào bây giờ. Ta có nàng cũng không được mà chẳng có nàng cũng không xong”.

KHÚC DÂN CA LẠ…

minhhuevov | 03 February, 2009 11:04

      
                                (Như khúc tình ca....)

      Gió về thổi lá cây bên khe 
      Nếu ta là hạt mưa sương 
      Ta xin tan trên bàn tay nàng 
      Gió về thổi lá cây, lật ngả nghiêng bên suối 
      Nếu ta là hạt mưa sương
      Ta xin tan dưới bàn chân nàng.
                            (Dân ca Mông)

CẦU MAY NGÀY TẾT....

minhhuevov | 25 January, 2009 22:15

    Có rất nhiều dân tộc có tục kiêng quét nhà, hót rác trong ngày Tết như dân tộc Mông, dân tộc Dao, dân tộc Tày Nùng và dân tộc Sán Dìu. Người Cao Lan cũng vậy, kiêng quét nhà vì sợ thần tài, thần lộc giật mình, sợ quét đi may mắn...

 

  

   Người Mông còn kiêng không ăn tất cả các loại rau vào ngày mồng một Tết vì sợ cả năm phải ăn rau. Ông Cù Duy Man ở Đồng Văn, Hà Giang kể: Từ xưa người Mông đã truyền nhau phải kiêng kỵ nhiều điều. Kiêng không được thổi lửa. Thổi lửa thì sẽ gió bão, năm ấy gió lớn. Mồng một Tết, mọi người không được gọi nhau dậy, phải tự dậy. Gọi nhau thì sẽ có nhiều sâu bọ hại lúa, ngô. Có một phong tục có ở nhiều dân tộc trên đất nước ta từ miền ngược đến miền xuôi, đó là tục mang nước vào nhà đầu năm mới. Từ trong tâm thức người ta tin rằng sẽ mang theo của cải nhiều như nước.

   Người Hoa đi lấy nước, hoa tươi vào lúc giao thừa, đặt lên bàn thờ tổ tiên để cầu cho cấy cày, mùa màng thuận lợi, còn sáng mồng một có tục lấy nước phép tưới lên người cầu may. Người Pu Péo đi lấy nước mới vào đêm 30 Tết, gọi là “nước vàng, nước bạc”. Anh Củng Chẩn Tráng ở Phố Là, Đồng Văn, Hà Giang bảo rằng, nước lấy về dùng để rửa mặt cho con người thêm thông minh, sáng láng. Rửa xong phải đổ hết vào trong nhà không để một giọt nào ra ngoài, ấy là của cải, ấy là vàng bạc.

   Sáng mồng một Tết, người Thái ở Mộc Châu - Sơn La, ai cũng phải dậy thật sớm, ra suối rửa mặt và nhặt một hòn đá dưới suối cầu may, sau đó mới đi chúc Tết. Còn người Thái Trắng ở Quỳnh Nhai, Sơn La thì có hẳn một lễ hội gội đầu vào đúng 1h chiều 30 Tết với những mong ước giản dị, như lời anh Điêu Chính Hiến, là nhằm xua đi những nhọc nhằn, vất vả trong năm qua và cầu cho năm mới mạnh khỏe, mùa màng tốt tươi.

   Người Lô Lô có tục lấy may đêm giao thừa, không lấy nhiều, không lấy những vật có giá trị, chỉ là củ hành, củ tỏi, thanh củi nhỏ, là cây rau, và đương nhiên là không lấy cái thuộc sở hữu của gia đình mình. Người Lô Lô tin rằng trong giờ phút bước sang năm mới, nếu ai đó mang về nhà được một chút gì thì năm mới gia đình sẽ gặp nhiều điều tốt lành, ăn nên làm ra. Theo chị Vàng Thị Thanh, người Lô Lô ở Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang thì mỗi năm có 12 tháng nên người ta thường lấy 12 que củi nhỏ, hoặc 12 lá rau. Nếu nhổ tỏi thì cố nhổ cho được cả gốc. Nếu nhổ mà đứt gốc thì đó là điềm báo không may mắn. Sớm ngày mùng một, người Phù Lá cũng thi nhau dậy sớm để đi hứng nước, đem về đun nước lá để tắm, đun nước uống để cầu mong được sức khoẻ tốt, rửa sạch cái cũ, đón cái mới tốt đẹp. Rất nhiều dân tộc có tục lấy nước mới về nhà trong đầu năm mới, phải chăng nước là “một phần tất yếu của cuộc sống” ở một nước nông nghiệp!

"CÁI LÝ" KÉO VỢ

minhhuevov | 20 January, 2009 23:17

   Lâu nay, trên báo chí, người ta quen dùng từ “cướp vợ” khi viết về phong tục hôn nhân của người Mông. Thế nhưng, người Mông lại “cải chính” rằng “phải nói là kéo vợ” mới đúng. Cuộc trò chuyện của MH với anh Giàng Seo Gà, người dân tộc Mông ở Sa Pa, Lào Cai cung cấp những thông tin thú vị.
    -Thưa anh, khi viết về phong tục hôn nhân của người Mông, tôi thấy có người viết là "cướp vợ", người lại bảo là " bắt vợ", rồi "kéo vợ", vậy cướp, hay bắt hay là kéo là chính xác?
    -Tiếng phổ thông người ta gọi là cướp nhưng người Mông không gọi là "cướp”, người Mông gọi là" kéo". "Kéo" là đúng hơn, không dùng cái từ " cướp". Ngàn đời nay người Mông chỉ sử dụng từ "kéo", không sử dụng từ "cướp" cho nên chúng ta tăng lên nó lên thành từ "cướp" thì người Mông sẽ hiểu khác ngay. "Cướp" thì người Mông hiểu là đi cướp 1 cô vợ của anh khác cơ, chứ không phải đi kéo vợ. "Kéo vợ" là đi kéo 1 cô chưa có chồng chứ. Người Mông rất kiêng kỵ cái từ "cướp" bởi vì trong cuộc sống của đời người thì ai cũng lo sợ nhất cái chuyện bị cướp bóc. Người Mông không bao giờ dùng cái từ cướp đó.
   -Vậy thì bản chất của hành động kéo vợ theo phong tục của người Mông là gì, tại sao lại phải kéo về?
   -Tất cả người Mông đều có 1 cái giống nhau là anh có yêu bao nhiêu, nàng có yêu anh bấy nhiêu, đến 1 chừng mực nào đó, gần đến cửa là anh ta phải kéo. Phải kéo chứ không phải tự nhiên cô ta về nhà. Một cái lý do cụ thể là như thế này. Anh không kéo tôi thì có nghĩa là anh không yêu tôi. Cho nên không kéo thì dù cô ta có yêu anh chàng đến mấy cũng, không bao giờ cô ta tự bước vào nhà để lấy anh ta cả.
   -Anh ta có kéo mình thì mới chứng tỏ anh ta yêu mình, đó là cái tâm lý người con gái. Đó là quan niệm của người Mông về tình yêu, hạnh phúc?    - Đây là cái tâm lý của toàn bộ phái nữ dân tộc Mông. Phái nữ dân tộc Mông người ta khẳng định rằng 1 con người mà người ta không kéo tay vào nhà thì mình không còn phẩm chất giá trị gì của một cô gái nữa.
   -Sẽ mang cái tiếng để đời là mình tự theo người đàn ông ấy về?
   -Vâng, mình sẽ bị mất phẩm giá, bị mang cái tiếng là tự theo chàng ta về nhà, coi như là tự nguyện làm hầu chứ không phải làm vợ. Nếu mình được kéo về thì mới được trân trọng, còn nếu mình tự theo về thì mình không được trân trọng. Và mình tự cảm giác là mình vai thấp hơn, tự nguyện về làm hầu hạ anh ta chứ không phải làm vợ anh ta, vì anh ta không thèm kéo mình. Ví dụ hai người sống với nhau nó thuận hoà, đầu bạc răng long thì không sao nhưng đến dở chừng mà anh chàng lại đi thế này thế khác thì cô vợ có cái cớ là: anh kéo tay tôi, tôi mới về làm vợ anh, nếu anh không kéo thì tôi có thằng khác kéo, tôi cũng là vợ của họ. Anh kéo tay tôi về thì anh phải kéo tay tôi ra để mà trả cho gia đình tôi. Mà trước khi anh kéo tay tôi ra để trả nhân phẩm của tôi về với gia đình tôi, tôi đẻ cho anh bao nhiêu đứa con thì anh phải nhét bằng được số con đó vào thân thể của tôi và phải sửa thân thể tôi như con gái ngày trước.
   - Có thể là nhờ "cái lý" này mà người Mông ít khi ly hôn chăng! Nhưng mà kéo con gái nhà người ta về mà gia đình cô ta không được biết thì có vẻ nó cũng giống như là bắt cóc ấy?
   - Một chàng trai tự đi kéo về nhưng mà về đến nhà là phải cho người đi báo tin ngay cho bên nhà gái.
    -Người Mông ở Thanh Hoá người ta kéo vợ nhất nhất là phải đi vào ban đêm, thế còn người Mông ở Lào Cai thì có nhất thiết là phải đi vào ban đêm hay ban ngày cũng được?
   - Nguyên tắc chung của người Mông thì người ta chả quy định ban đêm hay ban ngày. Đi ban đêm hay ban ngày lại phụ thuộc vào từng đối tượng. Còn theo tôi biết ở Sa Pa, Lào Cai hay bên Hà Giang, kéo vợ thì kéo ban ngày tùy anh, kéo ban đêm tuỳ anh, không quan trọng. Nhưng mà riêng trường hợp đã có yêu rồi, hai người đã có ý tứ lập gia đình với nhau thì đi ban ngày người ta sợ hàng xóm hay bạn bè người thân người ta nhìn thấy, sau này nếu thành vợ thành chồng thì không sao, không thành vợ thành chồng người ta lại có cái dư luận xã hội không tốt. Cho nên là người ta phải đi ban đêm là chủ yếu. Gia đình nhà trai cảm thấy không phù hợp thì mang trả luôn.
    - Hiện nay, con trai Mông có còn kéo vợ như thế nữa không anh? Và chuyện hát giao duyên trong đám cưới có còn trong cộng đồng người Mông ở Sa Pa không?
   - Hình thức kéo vợ thì bây giờ vẫn còn, nhưng mà hình thức tổ chức đám cưới theo cái thủ tục ngày xưa bây giờ giảm đi 75 đến 80% rồi. Hiện tại ở Sa Pa, người Mông 1 số xã tổ chức đám cưới y sì như người Kinh, không như là người Mông nữa, không có cái sự giao nhau bằng lời ca tiếng hát. Bây giờ người ta chẳng khác nào như tổ chức tại Hà Nội. Đến cứ chào nhau một câu, rồi lên mâm chén xong có tiền thì đưa tiền, không có tiền thì thôi, về!. Tôi nghĩ nó trở thành 1 cái gì đó..đó là rất mới nhưng lại không văn hoá tí nào.
    -Nhưng kéo vợ thì vẫn kéo từ trước rồi chứ ạ?
   -Những nhà này người ta không kéo vợ nữa cơ, người ta chơi y sì hiện đại luôn. Khi đó cô dâu chú rể mặc quần áo như cô dâu chú rể Hà Nội rồi. Cải tiến dần, cải tiến dần như thế thì chúng ta hình như không còn một cái mấu chốt nào đó là của ta cả, khi đó người Mông không phải là người Mông nữa.
   - Vâng, tôi cũng đồng ý với anh như vậy. Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện.
 

KHÔNG ĐƯỢC ĐẶT TÊN – 80 TUỔI VẪN NGANG HÀNG CON NÍT

minhhuevov | 18 January, 2009 20:13

  

   Tày - Dao kết bạn

   Xóm Mít - xã Tu Lý, hyện Đà Bắc - Hoà Bình là một xóm của người Dao Tiền hạ sơn hơn chục năm nay. Từ đường quốc lộ vào không xa lắm. Nhiều nhà có tivi, cát-xét, thế nhưng có một lễ tục từ xa xưa vẫn hiện hữu trong mỗi gia đình, dưới mỗi nếp nhà, đó là Lễ Lập tĩnh.

    Lễ Lập tĩnh hay còn gọi là Lễ đặt tên, chỉ dành cho con trai khi 10-12 tuổi. Anh Bàn Văn Lâm - Trưởng thôn Xóm Mít, giải thích: Mỗi con trai là một nhà riêng, một giường thờ riêng, nối dõi cho tổ tiên thì mới đặt tên, còn con gái sau này đi lấy chồng sẽ theo dòng họ khác. Như vậy, người đàn ông dân tộc Dao, ai cũng có hai cái tên, một tên thường gọi và một tên được đặt trong lễ Lập tĩnh chỉ để dùng trong những dịp cúng lễ, trình báo tổ tiên, gọi là bí danh, có nơi gọi nôm na là "tên âm". Thế nhưng, đây lại là cái tên có ý nghĩa rất lớn trong cuộc đời người đàn ông Dao Tiền. Nếu anh không làm lễ Lập tĩnh, không có tên cúng cơm thì cũng đồng nghĩa với việc anh là người kém cỏi, chưa đủ tư cách làm người lớn, không có vai trò vị trí trong dòng họ, trong cộng đồng theo quan niệm từ bao đời truyền lại. Và quan trọng hơn theo người Dao, khi chết đi sẽ không về được với tổ tiên. Còn khi đã làm lễ đặt tên, ngoài mọi quyền lợi được hưởng, anh ta còn được mời đi làm thầy trong các lễ Lập tĩnh của con cháu bên họ ngoại. Trước kia, nhiều người quá nghèo, khi còn sống không có tiền làm lễ Lập tĩnh cho con. Khi họ qua đời, người con ấy phải sắm lễ Lập tĩnh tự đặt tên cho mình. Và không ít người Dao Tiền khi bước vào tuổi cổ lai hy vẫn không có tên vì trong đời họ chưa bao giờ làm lễ Lập tĩnh. Thế nên, mới có chuyện có những cụ ông 70 - 80 tuổi, lứa tuổi có thể trở thành già làng, nhưng do chưa làm lễ đặt tên, họ bị xếp vào mâm dưới, ngồi ăn cùng đám con nít. Tuy nhiên, qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, Lễ đặt tên của người Dao Tiền thực chất là lễ công nhận một thành viên chính thức của dòng họ đã đến tuổi trưởng thành, có quyền và mọi nghĩa vụ trong dòng họ. Lễ đặt tên còn là sự trình báo cho tổ tiên biết: một thành viên của dòng họ nhập vào tổ tiên, có nghĩa vụ nối dõi và làm tròn phận sự của mình... Ngày làm Lễ Lập tĩnh là ngày vui của gia đình, dòng họ và cũng là ngày vui của cả bản làng. Nghi lễ gồm có gà, rượu, gạo và bắt buộc phải có 3 con lợn. Hai ông thầy mo có uy tín được mời đến cúng suốt hai ngày hai đêm. Đúng 12 giờ đêm đầu tiên của lễ, đứa bé sẽ phải cùng bố đẻ mình ăn hết 1 con gà. Cái tên được đặt vào lúc một giờ sáng. Người ta vừa hát vừa nhảy múa, gọi là hát chào chèo. Điệu hát chào chèo không được hát bất cứ ở đâu, làm đám Lập tĩnh mới được hát. Đó là điệu múa Chunghát mời tổ tiên về chứng giám.

   Lễ Lập tĩnh của đồng bào Dao Tiền còn tồn tại đến ngày nay đã góp phần lưu giữ nhiều loại hình văn hoá dân gian của dân tộc Dao. Tuy nhiên, để làm một cái lễ Lập tĩnh, người Dao Tiền phải có ít nhất 1 tạ gạo, 100 lít rượu, 50 con gà và 3 con lợn từ 50 đến 80 kg/con, tương đương khoảng 3 triệu đồng. Nay, thực hiện nếp sống mới, lễ Lập tĩnh có phần giản tiện hơn. Nếu muốn tham dự vào lễ Lập tĩnh của đồng bào Dao Tiền, bạn hãy đến các bản làng Dao khoảng tháng 11, 12 hoặc vào mùa xuân

RUỘT NON, RUỘT GIÀ – THẰNG NÀO TRẺ HƠN

minhhuevov | 17 January, 2009 22:40

  

   Ra biển để nguyên giày thể thao mới "model"!

      

      Về thăm ông bà nội. Ngồi sau xe, Bi hỏi đủ chuyện. Mà toàn hỏi

những điều phì cười.

   - Mẹ này, ruột non và ruột già thì thằng nào trẻ hơn, ý con nói là thằng nào có trước, thằng nào có sau?

   - Chắc con nghĩ là ruột già nhiều tuổi hơn phải không?

   - Con đang nghĩ thế đấy.

   - Sao tự nhiên con lại quan tâm đến mấy cái thứ ở trong bụng vậy?

    - Thì cô con có nói về chúng mà. Khi học môn tự nhiên xã hội ấy!

Nhưng mà cô con chỉ nói sơ qua thôi. Con không dám hỏi.

    - Thế thì mẹ giải thích cho con thế này: Ruột non, ruột già – bọn

chúng bằng tuổi nhau và bằng tuổi của con người luôn. Ví con 8 tuổi thì

ruột non, ruột già của con cũng 8 tuổi.

   - Lạ nhỉ, rõ ràng non thì phải trẻ hơn già chứ!!!

      (Có vẻ chưa tâm phục khẩu phục)

ĐẺ TỪNG ĐỨA HAY ĐẺ TỪNG CHÙM?

minhhuevov | 14 January, 2009 22:30

  

   

   Leo lên giường đi ngủ, Bi mè nheo:

   - Mẹ ơi, hôm nay mẹ kể chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh cho con nghe đi. Mẹ kể dài, đầy đủ vào, chứ sách của con có mỗi đoạn ngắn.

   - Được rồi… “Ngày xửa ngày xưa….

   - Bây giờ Sơn Tinh, Thủy Tinh còn sống không?

   - Không, Sơn Tinh, Thủy Tinh chết lâu lắm rồi. Sơn Tinh chết đi hóa thành núi, còn Thủy Tinh hóa thành sông, biển.

    - Sơn Tinh và Mị Nương có con cái không mẹ?

   - Có chứ.

   - Thế con cái họ biến thành cái gì?

   - À, biến thành cây cối. Con xem ti vi thấy trên núi có rất nhiều cây cối xanh tươi. Đấy là con của vợ chồng Sơn Tinh.

    - Thế à. Vậy thì khi họ đẻ, họ đẻ từng đứa một hay từng chùm con hả mẹ?

ĐÓN TẾT CÙNG NGƯỜI PU PÉO

minhhuevov | 13 January, 2009 22:50

   Tại nhà ông Củng Diu Xuyền, xóm Củng Chá (Phố Là, Đồng Văn, Hà Giang), 30 Tết, mọi người tất bật chuẩn bị làm cơm cúng Tổ tiên. Đó là việc mà gia đình người Pu Péo nào cũng làm rất cẩn trọng. Ông Củng Diu Xuyền lặng lẽ bày lễ. Mâm cúng là cái nong tròn nhỏ, dưới xuôi thường gọi là cái mẹt, đan bằng tre, trên đó, cơm được tãi ra, đặt miếng thịt lợn luộc chín. Mâm ở giữa có 4 chén rượu nhỏ, còn hai mâm đặt hai bên mỗi mâm 2 chén. Bây giờ, dù nhiều nhà có mâm nhôm nhưng mỗi khi cúng lễ, người Pu Péo đều phải biện lễ trên cái nong ấy. Anh Củng Phủ Xuẩn, con trai ông Xuyền cho biết: “Từ xưa các cụ truyền lại, đã cúng là phải cúng bằng cái mâm đan bằng cây trúc này, xưa các cụ làm gì có mâm nhôm. Mình cứ phải theo các cụ thôi, dùng mâm nhôm sợ các cụ “không nhận ra” nên phải dùng đồ cổ”.
   Ông Xuyền khăn áo chỉnh tề, ngồi xếp bằng tròn trước mâm lễ, tay cầm đuôi trâu khô, đưa đi đưa lại, rồi lầm rầm cầu khấn, mời Tổ tiên 5 đời về ăn tết với con cháu. Ông Củng Diu Xuyền lý giải phải cầm đuôi trâu là vì trước đây thời loạn lạc, phải chạy trốn khỏi bọn ăn thịt người sống cho nên người Pu Péo cầm đuôi con trâu. Trâu giúp người vượt qua biển. Con cháu đời sau mỗi khi cúng Tổ tiên đều cầm đuôi trâu với ý nghĩa nhớ ơn Tổ tiên, đồng thời để Tổ tiên nhận ra con cháu. Thế nhưng không phải đuôi trâu nào cũng đem phơi khô dùng cho cúng lễ. Cái đuôi trâu đó phải đưa lên bàn thờ, dâng Tổ tiên, khấn mời tổ tiên nhận mới dùng được. Thường thì chỉ thầy cúng mới có cái đuôi trâu khô đó. Nếu không mời thầy cúng, gia đình tự cúng lễ thì có thể thay đuôi trâu bằng 1 quả bầu khô. Người cúng sẽ cầm quả bầu khô mời Tổ tiên về ăn tết. Qủa bầu đối với người Pu Péo cũng là ơn cứu mạng. Khi nước ngập trần gian, nhờ có quả bầu mà người Pu Péo thoát chết. Vì thế, ông Củng Diu Xuyền mới dặn đò con cháu mình rằng: “Dùng quả bầu để tưởng nhớ các cụ thuở xưa, nhớ Tổ tiên của mình. Quả bầu đó mình phải tự trồng lấy, tự tay đem phơi khô chứ không được đi mua ở chợ. Mâm cơm cúng được dọn ra. Ngày thường ăn cơm ở chỗ nào cũng được nhưng bữa cơm chiều 30 Tết, sau khi cúng Tổ tiên xong thì cả gia đình phải ăn cơm trong gian thờ, ngay dưới bàn thờ Tổ tiên. Đấy là cách người Pu Péo sum họp với Tổ tiên mỗi năm chỉ có 1 ngày.
   Sau bữa cơm chiều 30 Tết, nhà nhà háo hức chờ đón phút giao thừa thiêng liêng để đi lấy nước mới. Bước sang năm mới, cả làng cả xóm đi lấy nước để cầu may. Người Pu Péo gọi là “nước vàng, nước bạc”. Khi đi lấy nước, anh Củng Phủ Xuẩn không quên mang theo bó hương và giấy vàng để đến mỏ nước thì đốt hương cầu khấn thần nước: “Xin thần Nước cho nó chảy mãi mãi để bà con cả bản cả làng được hưởng”. Nước đầy thùng, anh Xuẩn bỏ ít giấy vàng vào thùng gánh về. Ấy là của cải, là vàng bạc”, là lộc xuân. Thế nên, càng lấy được nhiều nước thì càng có nhiều may mắn. Theo lời anh Củng Phủ Xuẩn: “Gánh nước ấy, mình chưa được đổ vào vại ngay, mình gánh thẳng về nhà, thay toàn bộ nước cũ, lấy nước ấy đun lên rửa mặt. Cả nhà rửa xong, nhớ là không được đổ ra ngoài tí nào, mà phải đổ hết vào trong nhà. Anh mà đổ ra ngoài thì năm ấy sẽ không may mắn, vì đó là nước bạc, nước vàng, mình lấy về nhà mình, nó là của cải, đổ đi thì khác nào đổ của cải đi”. Ai đi lấy nước cũng được, chả cứ gì chồng hay vợ hay con cái. Nhưng ông Xuyền bảo ở nhà ông, thường là đàn ông đi lấy nước. Người con trai trong nhà phải đi lấy nước vàng nước bạc từ sáng sớm. Năm mới phải ăn nước mới, người mới mạnh khỏe. Dùng cái nước cũ thì dễ mắc bệnh tật. Mùng Một Tết, tầm 1-2 giờ sáng đi lấy nước về, đun lên rửa mặt. Người ta có cái đồng bạc già đặt ở chậu rửa mặt, khăn mặt cũng phải mới, đưa cho bố mẹ rửa trước, sau mới đến con cái. Nước mới cũng dùng để đun nước pha trà, đưa lên bàn thờ tổ tiên.
    Vui chuyện, ông Xuyền còn dặn dò: “Dân tộc Pu Péo sáng mùng Một sang nhà nhau chúc Tết chủ yếu con trai đi chúc thôi nhé. Con gái còn nhỏ đi cùng cũng được. Còn con gái lớn 13 tuổi trở lên, mùng Một Tết không vào nhà ai, hết mùng Hai mới được đi. Nếu con gái lớn, sắp lấy chồng vào nhà người ta, người ta kiêng, năm ấy xúi, làm ăn không phát tài. Còn con trai thì đến càng sớm, chủ nhà càng vui. Người đến chúc Tết cũng phải lịch sự tí, làm ăn khấm khá tí, vào nhà người ta người ta thích hơn, người đần độn vào, người ta buồn lắm, người ta không thích đâu”. Ở nhiều địa phương, nếu gia đình có tang thì Tết năm ấy kiêng không đến nhà ai sợ mang đến vận đen đủi. Thế nhưng người Pu Péo lại quan niệm khác, họ không kiêng khem điều này vì theo họ sáng mùng Một là năm mới rồi, tang là tang từ năm cũ.
   Ngày Tết, người Pu Péo làm bánh trôi, ăn vào ngày mùng Một với quan niệm ăn bánh trôi thì nuôi gà, gà sẽ đẻ nhiều trứng to như cái bánh trôi.
    Người Pu Péo còn có tục “đón giọng gà” hay còn gọi là “cướp giọng gà”. Khi giao thừa đến, sắp sang Năm mới, gà vừa vỗ cánh, chuẩn bị gáy là người ta đốt ngay 1 quả pháo, ném vào chuồng gà. Lũ gà giật mình, nhảy lên thi nhau gáy. Ngay lập tức, mọi người hò nhau hát vang trời để át tiếng gà gáy. Trong tâm thức người Pu Péo, tiếng gà gáy vừa hay, vừa thiêng liêng, đánh thức cả ông mặt trời dậy. Vì thế, người Pu Péo muốn tiếng hát của mình át tiếng gà với niềm tin hồn nhiên rằng: Người nào làm được như thế thì sang Năm mới sẽ hát hay, gặp nhiều may mắn, hạnh phúc.

 Thiếu nữ Dao và Pu Péo trong ngày hội
 
    Bên bếp lửa ấm áp, chúng tôi quây quần như người một nhà, nhấm nháp chén rượu đầu xuân, người già kể chuyện xưa, người trẻ nói chuyện học hành, chuyện làm ăn. Ngoài trời mưa sương đang gội lên cành đào, cành mận… Tôi cảm nhận rất rõ những nụ mầm đang vươn ra từ những thân cây màu xám.

BÙA YÊU CỦA NGƯỜI MÔNG

minhhuevov | 13 January, 2009 22:14

  
Khởi nguồn của tình yêu
   Gửi tình yêu vào ruộng bậc thang
   Trước đây, thanh niên Mông tin rằng: Muốn người nào đó yêu mình thì phải lấy trộm được tóc của người ấy, đem cuốn với tóc của mình. Sau đó bắn tin cho đối tượng, chắc chắn tình yêu sẽ đến. Có người lại tin: đốt đoạn đuôi rắn bôi vào cành cây búc rúc, quẳng vào lối mà cô gái hay đi qua, cô gái bước qua hay dẫm phải cành cây thì sẽ mắc vào “bùa yêu”, phải lấy người bỏ bùa. Con gái Mông còn tin rằng: muốn quyến rũ ai đó thì một mình ra bờ sông Nho Quế (con sông ở vùng Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) sâu thăm thẳm, nằm giữa hai vách núi dựng đứng), lúc trời lặng gió mà nhìn thấy cái lá nào vẫy vẫy thì ngắt về, đốt lên, hòa với nước, lén cho người đó uống. Thế là anh chàng yêu chết mê chết mệt. Bùa yêu này theo người già thì vô cùng hiệu nghiệm! (Chả biết có đúng không!)
   Đó là chuyện của người xưa nhưng đến tận bây giờ trong các bản làng Mông, người ta vẫn nhắc đến bùa yêu như khát vọng về hạnh phúc và thuỷ chung. Từ xa xưa, con gái, con trai Mông đã chỉ nghe theo tiếng gọi của trái tim, người Mông không lấy vợ lấy chồng theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Con gái Mông đã yêu thì mãnh liệt vô cùng, nếu thích ai thì bỏ nhà bỏ cửa đi theo, mà không thích thì trâu béo, bạc nén cũng chẳng thèm. Tình yêu khiến người ta vượt trăm sông ngàn suối để đến với nhau. Tình yêu thành lời hát, thành tiếng khèn tha thiết ở những phiên chợ tìm bạn, trên các sườn non, vách núi. Các chàng trai dùng tiếng khèn, điệu hát thay cho lời tỏ tình. Họ say nhau trong điệu múa tình tứ và trong những câu hát đối đáp giao duyên vấn vít, trong tiếng đàn môi thầm thì, thầm thì... Những đêm trăng sáng, chàng trai đem khèn đến nhà cô gái mà anh ta ưng tấu lên khúc nhạc yêu da diết, đến nỗi cô gái không thể cầm lòng tìm đến với bạn tình. Khi đã ở bên nhau chàng mới ngỏ lời: “Cái bụng anh thương em nhiều như lá rừng. Em không có lòng thì thôi. Có lòng thì về ta ở với nhau một đêm. Em không có lòng thì thôi, có lòng thì về, ta ở với nhau một ngày” . Cách bày tỏ tình yêu hết sức bộc trực, thẳng thắn mãnh liệt. Có lúc tình tứ lãng mạn đắm say, như lời bài dân ca Mông: “Gió về thổi lá cây bên khe. Nếu ta là giọt mưa sương ta xin tan trên bàn tay nàng. Gió thổi lá cây, lật ngả nghiêng bên suối. Nếu ta là hạt mưa sương. Ta xin tan dưới bàn chân nàng” . Người Mông có hình thức “kéo vợ” (mà ta hay gọi là cướp vợ), không giống với bất kỳ dân tộc nào. Cho dù cô gái đã ưng thuận, nhưng khi chàng trai “bắt” cô vẫn cố tình giằng co để chứng tỏ danh giá của mình. Cái lý của người Mông, theo anh Sùng A Lứ, ở bản Lao Chải, Sapa (Lào Cai) là “để mai ngày sống với nhau có điều gì khúc mắc, chàng trai không được nói là “cô tự theo tôi về” và cô gái cũng nói được: “anh kéo tôi về đấy chứ” .
   Tôi đã từng đến một số vùng đồng bào Mông, thấy cái giường hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ vừa ngắn lại vừa hẹp. Dường như ở đây không tồn tại khái niệm giường đôi…Chiếc giường chỉ dài 1,5 m, rộng 1,2 m. Tại sao cái giường hạnh phúc lại chỉ bằng chừng ấy? Người Mông quan niệm cái giường càng ngắn, càng hẹp thì chứng tỏ vợ chồng nhà đó yêu thương nhau càng nhiều. Vì cái giường ngắn, hẹp phải quấn quýt lấy nhau mới có nhiều tình cảm!
   
Ném pao tỏ tình
   Ném pao tỏ tình
   Tôi cũng đặc biệt thích thú và thật sự khâm phục khi nhìn cảnh vợ chồng người Mông đi chợ về, anh chồng say nằm vắt ngang trên lưng ngựa, chị vợ kiên nhẫn túm đuôi ngựa, leo hết dốc này đến dốc khác, đưa anh chồng say mềm về nhà. Khi say quá, anh chồng nằm vật bên vệ đường, thì cô vợ kiên nhẫn ngồi che ô, chờ đợi, quạt cho chồng cho đến khi nào tỉnh rượu. Người phụ nữ Mông cũng có “cái lý” riêng của người vùng cao, nói như chị Dương Thị Phương, dân tộc Mông ở Hà Giang: “Chồng bạn say mới chứng tỏ là chồng bạn cao sang, giao du nhiều, có nhiều bạn tốt. Bạn mà không che ô cho chồng thì có người khác che ô thôi, bạn sẽ mất chồng”. Người phụ nữ Mông xưa nay thường lệ thuộc vào người chồng vì giữa thiên nhiên hoang sơ, dữ dội người phụ nữ ai chả muốn được nương tựa, chở che. Thế nhưng, không phải vì thế mà người phụ nữ không được đề cao, tôn trọng. Chị Phương còn cho biết: “Người đàn ông Mông khi cầm khèn thồi, điều đặc biệt là bài khèn đầu tiên bao giờ cũng nói về người phụ nữ, ngợi ca người phụ nữ, rằng họ là ngọn lửa sưởi ấm gia đình, sưởi ấm trái tim người đàn ông”.
  
Tìm bạn ở chợ phiên
   Tìm bạn ở chợ phiên
   Trong xã hội Mông, tình cảm vợ chồng thuỷ chung luôn luôn được coi trọng. Mọi chuyện dan díu, bất chính đều bị lên án. Ngày nay, việc giao lưu văn hoá giữa các dân tộc được mở rộng, lối sống hiện đại đã len lỏi vào nhiều bản Mông, song người dân nơi đây vẫn giữ được chất lãng mạn, trong sáng trong tình yêu đôi lứa và trong hôn nhân gia đình. Hiếm khi bố mẹ đánh mắng con cái, và đặc biệt tỷ lệ vợ chồng ly hôn có lẽ là thấp nhất so với nhiều dân tộc khác. Phải chăng đó cũng là nhờ những phong tục hôn nhân truyền thống tốt đẹp mà các thế hệ người Mông biết nâng niu, gìn giữ!

Ngộ nghĩnh 2

minhhuevov | 18 November, 2008 08:08

 
   

CÁI CHỨC NGU XUẨN

Ngày 9-11-08

Bữa cơm hôm nay, Bi không vui. Kể: bạn Hiếu tổ con bị cách chức tổ trưởng rồi. Cô cử con thay bạn ấy làm tổ trưởng. Con thấy mệt mỏi quá.. (thở dài). Nào là chia cơm, nào là chia vở, nào là ghi tên các bạn nói chuyện...

Con ghét cái chức ngu xuẩn này!!!!

(Tội nghiệp, mới có cái chức bé con con đã thấy áp lực rồi!!!)

 (Xem tiếp)

Ngộ nghĩnh 1

minhhuevov | 18 November, 2008 08:05

 

Các bạn thân mến.  Con trẻ những năm tháng đầu đời tiếp nhận thế giới xung quanh, bắt đầu học nói, diễn đạt ý mình có rất nhiều chuyện ngộ nghĩnh, đáng yêu. Mời các bạn hãy tham gia, chia sẻ những câu chuyện của con cháu mình. Biết đâu chúng ta lại có hẳn 1 "quyển" "từ điển" về ngôn ngữ của trẻ nhỏ. Trước hết xin góp đôi chuyện của con trai Trần Nam Vũ, năm nay 8 tuổi, tên gọi ở nhà là Bi.

 

 

 

 

 (Xem tiếp)

Đi tìm lời hẹn Khau Vai

minhhuevov | 24 October, 2008 14:54

Chợ tình Khau Vai, thuộc địa phận xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc, Hà Giang cách trung tâm huyện hơn 20 cây số. Chợ mỗi năm chỉ họp 1 phiên vào ngày 27/3 âm lịch. Phiên chợ này dành riêng cho những đôi lứa yêu nhau mà không lấy được nhau, mỗi năm nhằm ngày 27/3 vượt núi băng rừng về đây gặp nhau



Anh Hoàng Văn Bộ, Trưởng Phòng Văn hóa Thông tin huyện Mèo Vạc giảng giải: "Khau Vai là Dây mây, theo tiếng địa phương".  

 (Xem tiếp)
1 2  Sau»