Sign up

TET NÀY ĐI HỘI CHỌI BÒ

minhhuevov | 26 January, 2012 22:03

“Mùng 3 tết lên Nậm Miòng xem chọi bò xóm mình đi! 20 tháng giêng thì xem chọi bò huyện Bảo Lâm…Cứ gọi là vui quên đời..” - Anh Lý A Tu, người mê bò chọi ở Nậm Miòng (xã Tân Việt, Bảo Lâm, Cao Bằng) rủ rê tôi bằng  một cái giọng đầy phấn khích..Thì cũng bởi muốn nhìn tận mắt, sờ tận tay 4 con bò chọi có tiếng của nhà anh mà tôi đã phải hì hục leo lên tận đỉnh núi này…

Chọn bò chọi…kỹ hơn cả chọn vợ

Lý A Tu tự hào về giống bò u Bảo Lâm lắm. Anh nói chắc như đinh đóng cột rằng, không ở đâu trên khắp nước Việt Nam có giống bò to, đẹp như bò u của Bảo Lâm. Nó chẳng phải là loại lai từ giống bò ngoại quốc nào, dặt là giống bò bản địa. Mà chỉ vùng núi đá Bảo Lâm, bò u mới to khỏe, thịt săn chắc như thế. Có con nặng đến 700 kg, trong khi loại bò “cóc” thì to nhất cũng chỉ 300 kg là hết cỡ.

Hỏi chuyện bò chọi, Lý A Tu thủng thẳng: “Chọn bò chọi phải kỹ lắm. Kỹ hơn chọn vợ nhiều lần!”. Hơn hai mươi năm làm nghề nuôi và buôn bò, Lý A Tu tích cóp được cả kho kinh nghiệm chọn, nuôi bò chọi. Chỉ nhìn lướt là anh biết bò chọi giỏi hay không. Kéo tấm gỗ ngăn cửa chồng bò đánh roạt, thoăn thoắt cuốn dây thừng sát đầu con bò chọi, A Tu khéo léo điều khiển con bò vàng, dáng điệu rất hiếu chiến ra sân. Con bò này to, cao. Thân dài chừng 2,5m. Từ chân đến cái U tầm 1m6. Gọi là bò u vì con nào cũng có cái u to tướng, gồ lên như bò tót xứ Tây. Cái đầu nó nghiêng nghiêng, chĩa hai sừng nhọn ra phía trước.

 Một tay giữ đầu bò, tay kia liên tục tục gãi gãi vào lưng bò, A Tu say sưa chỉ cho chúng tôi tiêu chuẩn của một “tráng sĩ bò”. Dáng phải to khỏe, lực lưỡng, săn chắc. Da dày, lông mượt. Da dầy mới chịu được đau nếu như đối phương “cắm” sừng vào sẽ chả khác nào như cắm vào đá. Đầu phải mỏng, má nhỏ. Hai tai ngắn, ép sát vào thân. Lông tai phải dầy, dài che kín cả lỗ tai thì khi chọi mới không biết sợ. Cổ phải to, ức lớn, phồng ra thì bò mới có sức. Nếu mà ngực lép, khi chọi mệt, nó sẽ không thở được. Đuôi phải to, dài. Lông đuôi cũng dài như mớ tóc gái mười 17. Hai mông chắc, thon nhỏ.

Bò chọi đáng giá nhất là cặp sừng. Sừng bò không dài và cong vểnh lên như sừng trâu. Nó chỉ dài chừng hơn gang tay. Sừng bò chọi được coi là chuẩn phải nhọn hoắt như măng mai và vồng về phía trước. Có vậy mới sẵn sàng nghênh chiến và húc ngã được đối phương. “Thế mạnh của con bò là cặp sừng, nếu nó cong về phía sau thì chả còn tí sức mạnh nào, coi như “vũ khí” bị vô hiệu hóa rồi, chả nước non gì!” - Lý A Tu giảng giải.  Vào đấu trường, bò chủ yếu đấu sừng. Con nào mà không biết đấu sừng thì chỉ có dùng sức mà đẩy. Cạn sức là thua ngay. Nếu biết đấu sừng, nó “chơi” vài nhát vào cổ, vào tai đối phương, tóe máu, con đó chỉ còn nước bỏ chạy…

Điểm quan trọng không thể bỏ qua khi chọn bò chọi đó là đôi mắt. Mắt không quá to, lại phải sâu, con ngươi sáng quắc  thì mới “máu chọi”, chứ mắt lồi ra thì vừa nhìn thấy bò chọi nhà khác là đã “ớn” rồi! A Tu bảo, bò mắt sáng, chọi khôn hơn trâu, đấu có chiến thuật hẳn hoi. Vào trận là nó biết tung ra những miếng đánh hiểm hóc, miếng ghì, miếng móc. Con dũng mãnh còn có miếng đánh rất “cảm tử”. Nó lùi xa rồi bất ngờ lao cả thân mình vào đối thủ. Cặp sừng sắc nhọn cắm phập vào mắt, vào cổ, hạ gục đối thủ ngay lập tức.

Về khoản chọn bò chọi, anh Tu có một bí  quyết nhà nghề và vô tư chia sẻ, đó là “nhìn vào tim nó mình biết nó thích chọi hay không. Bò có tim ác thì nó mới “hiếu chiến”. Mà muốn biết tim nó ác hay hiền thì chỉ cần nhìn vào mắt nó, biết liền. Cái mắt nó, cái con ngươi ấy, lúc nào cũng long lên sòng sọc. Và đặc biệt là lúc nào cũng nhìn xuống, không nhìn thẳng lên trên bao giờ, cứ lấm la lấm lét. Con nào mà ánh mắt tỉnh bơ trước đám đông, đàng hoàng thơ thới nhìn ra xung quanh, thoải mái ngắm trời ngắm đất thì …cái gan nó “bé’ và “yếu” lắm. Có thả vào “sới” cũng chỉ chạy, chứ chả biết chọi đường nào…Cái ánh mắt lấm lét ấy mà lại “ngự”  trên cái mặt hơi khuỳnh, lông mày cũng khuỳnh thì tim lại càng ác. Loại này nhìn thấy đối phương từ xa đã lao sầm sập vào, “chiến” cực kỳ dũng mãnh.

Bò chọi ít nhất phải là bò đực từ 5 tuổi trở lên, nhưng không được quá già. Muốn thắng đối phương trong hội chọi bò, chủ bò phải vỗ béo cả năm trời. Phải béo mới có sức, gầy quá bò không có đà để chọi. Nhưng vỗ béo cũng phải trông chừng, béo nhưng phải săn chắc chứ không phải là béo ục ịch, nặng mông, di chuyển lặc lè thì cũng không chọi nổi.

Chọn được con bò chọi đủ tiêu chuẩn mới thắng lợi 50%. Chăm sóc bò chọi cũng phải có chế độ đặc biệt, cho ăn cháo cám, cháo ngô cùng với cỏ thái nhỏ. Bò chọi thường phải nuôi nhốt trong chuồng chứ không thả rông. Mà lại phải nhốt trong chuồng chật hẹp, để bò có bốn bắp chân to, khoẻ. Việc “cấm cung” như vậy là để bồi cho bò chọi tính khí nóng nảy, sẵn sàng nghênh chiến khi gặp đối thủ. Lý A Tu bảo: “Nuôi bò chọi chả cần kiêng gì, kể cái khỏan “nhẩy cái”. Có con “nhẩy cái” xong, nó càng “ác” hơn, “máu chọi” hơn. Chỉ cần kiêng cho “nhẩy cái” trước ngày đi hội, còn thì thoải mái cho phối giống để nhân đàn.

Từ thú chơi chọi bò chợ phiên...đến trường đấu mỗi năm một lần

Cứ như lời anh Lý A Tu thì chọi bò là một thú chơi từ lâu của bà con người Mông ở Bảo Lâm. Cứ mỗi phiên chợ bò, người mang  bò đi bán, người dắt bò đi khoe, cùng sở thích xem bò húc nhau…Thế là là cho chọi luôn. Vui một lúc, xong rồi mới nói chuyện bán mua. Thắng thua không quan trọng, miễn là “anh vui, tôi sướng”. Kết thúc cuộc đấu, hai chủ bò ngật ngưỡng bên chén rượu ngô, bát thắng cố bốc khói nghi ngút nối tình anh em...

Từ năm 2008 đến nay, năm nào huyện cũng tổ chức hội chọi bò vào ngày 20 tháng giêng. Và thế là hình thành một nghề mới ở vùng này-nghề nuôi bò chọi…Cả xóm Nậm Miòng, hầu như nhà nào cũng nuôi bò chọi. Riêng nhà Lý A Tu đã có 4 con bò chọi.

Theo anh Lý Văn Dinh, một tay buôn bò có hạng ở đây thì nuôi bò chọi lãi hơn bò thịt nhiều lần. Như con bò vàng hiếu chiến  trong tay anh Lý A Tu mới mua được hai tháng nay với giá 40 triệu, giờ đã có người trả 60 triệu rồi.

Con bò chọi màu đen, tết năm ngoái được giải nhất hạng B Hội chọi bò huyện Bảo Lâm được Lý Văn Dinh (xóm Nậm Miòng) mua với giá 35 triệu, năm nay kiểu gì cũng hứa hẹn “làm nên chuyện”. Nếu có giải, bò đen này còn tiếp tục được giá.

Chơi bò chọi đang là “mốt” của người dân các tỉnh vùng cao, từ Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng...Cho nên, nghe đâu có bò chọi hay là Lý A Dinh và anh em trong xóm tìm đến. Mua để vỗ béo, chờ hội chọi bò. Mua để đem bán, kiếm lời. Buôn bò, mỗi năm trung bình Lý A Dinh cũng để ra được hơn 30 triệu tiền lãi. Riêng năm nay, gặp may, chỉ trong 6 tháng A Dinh đã lãi 50 triệu đồng.

Dịp này, cả xóm Nậm Miòng nhà nào nhà ấy đang háo hức đến Hội chọi bò toàn huyện Bảo Lâm lần thứ 5 vào 20 tháng giêng năm Nhâm Thìn. “Đấu sĩ bò” dũng mãnh nhất trong hội thi cấp xóm vào ngày mùng 3 tết sẽ đem đi thi huyện. Cũng là dịp bà con người Mông khoe thành tích nuôi bò giỏi! Cũng là để góp phần phát triển đàn bò U đặc chủng, qúy hiếm của vùng cao núi đá này! Khác với hội chọi trâu Đồ Sơn, những con thắng cuộc đều bị giết thịt tế thần, các “tráng sĩ bò” ở đây, sau hội chọi được vinh danh và thường được người mua trả giá cao ngất ngưởng! Và “tráng sĩ” ấy còn có mặt trong nhiều hội chọi bò vùng Tây Bắc.   

 

ĐIỀU ĐÁNG SỢ NHẤT

minhhuevov | 14 October, 2010 19:02

   

Tôi là một trong nhiều phóng viên VOV chuyên tác nghịêp ở vùng dân tộc thiểu số. Mà nói đến vùng dân tộc thiểu số thì chủ yếu là không gian rừng núi. Ngồi xe tê dại cả người mới đến được cơ quan công quyền cần tiếp cận. Đi bộ rạc cả chân mới gặp dân bản, mới tận mắt nhìn thấy những điều muốn biết...Nhưng đó chưa phải là nỗi vất vả nhất.

Ai đã từng tác nghịêp ở vùng cao phía Bắc, có nơi rất thiếu nước cho chuyện tắm giặt mới thấy cực cho nữ phóng viên chúng tôi. Nhưng đó chưa phải là điều đáng ngại nhất.

Các chị, các bạn nữ đã từng phải một mình lao đi trong đêm, trên đường vắng, rồi những lúc phải một mình ở nơi hoang vắng để tác nghiệp chưa?  Lo gặp cướp thì ít mà lo gặp mấy "chú" không đàng hoàng thì nhiều. Căng thẳng cực kỳ những lúc như thế. Nhưng đó cũng chưa phải là điều kinh hãi nhất.

Lại nữa, nghề báo đi liền với giao tiếp. Có lẽ không ở đâu như ở Việt Nam, người ta cứ thích "ép" nhà báo nữ uống rượu, nhất là trên vùng cao. Hãi lắm với những đề nghị uống theo kiểu "Khát vọng", quàng tay, ôm cổ.  Rồi là uống theo kiểu "Tâm linh", cụ thể là "Giáp Thân", "Giáp Tý", đối phương đòi ôm cổ đến độ nhấc cổ lên khi nào vừa uống, chân vừa vẫy vẫy được mới là đạt.....(Mà trong mâm cơm đãi khách thì đâu phải chỉ có một  đàn ông). Ấy là chưa nói đến có chị em còn bị một số người mượn rượu (thậm chí chả cần mượn rượu) sàm sỡ trong những cuộc làm việc tay đôi hoặc ở nơi vắng người. Nhưng đó cũng chưa phải là điều đáng sợ nhất.

Cứ nói đến nhà báo nữ là người ta chỉ nhìn thấy những hạn chế. Mà thật lạ là hạn chế ấy lại không phải từ năng lực mà chủ yếu là ở góc độ giới:  nào sức yếu (nam giới cũng có người khoẻ, người yếu cơ mà), nào mất thời gian cho việc sinh con đẻ cái, nuôi nấng, chăm sóc chúng, nhất là khi con ốm đau...lại phải nghỉ..(Ô hay! Sao lại cho đó là hạn chế nghề nghiệp nhỉ!!!Giá mà đàn ông cũng đẻ con, cũng nuôi con....bằng sữa bố thì tốt cho chị em biết mấy!)

Thế nên trong nhiều mẩu "Rao vặt" tuyển phóng viên của 1 số cơ quan báo chí mới xuất hiện cái cụm từ làm nhức nhối chị em: "chỉ tuyển phóng viên nam" hoặc "ưu tiên nam giới"...Khi cất nhắc nhà báo nữ, cán bộ nữ vào một số vị trí cốt cán, đây đó lại kèm theo ý tứ "cơ cấu", "cho đẹp đội hình", "cho mềm mại", "cho sắc màu" đội ngũ.... Với nhà báo nữ chúng tôi,  đấy mới thực là điều cực  nhất.

 Nhiều con đường rừng heo hút in đầy dấu chân của các nhà báo nữ là gì!. (các anh bộ đội biên phòng và bà con dân bản biết rõ mà).

Cả nơi Trường Sa sóng cao cỡ nhà cao tầng, gió giật đùng đùng cũng đang lưu giữ nhiều bóng hình  yểu điệu của nữ phóng viên đó sao! (không tin cứ hỏi các anh bộ đội Trường Sa mà xem!)

Nhiều phóng sự thực tế về những vấn đề gai góc trên mặt báo, trên sóng phát thanh, truyền hình, gây tiếng vang trong dư luận...mà tác giả là nữ nhà báo. (điều này thì có các chị em làm báo làm chứng).

Nhiều tên tuổi có danh trong làng báo là phụ nữ. (Lịch sử báo chí nước nhà và đời sống báo chí từng ghi nhận)

Bằng chứng cho năng lực báo chí của phái nữ đấy thôi!

Vậy, nhà báo nữ đang cần gì?

Cô bạn đồng nghiệp của tôi bảo: Tốt nhất là phải học võ!

Chị đồng nghịêp khác nói: Tốt nhất là được...bỏ quên!

Tôi thì nhớ ai đó từng nói rằng: Trên đời này, đáng sợ nhất không phải là đói, rét, bệnh tật, sự chết mà là sự...bị bỏ quên.

Ấy thế nhưng quả là.... rất, rất nhiều cảnh huống chị em nhà báo chỉ mong được...bỏ quên thôi!!!

Phải thế không, chị em?


 

Cho ngày 20-10-2010

TÔI BỊ MA ÁM

minhhuevov | 22 August, 2010 16:48

 

Những ngày cuối công tác tại huyện Đồng Văn, Hà Giang năm 2007, chị Nguyễn Thị Thúy, Hội phó Hội phụ nữ Đồng Văn rủ: "Có đi viếng đám ma bố chị Giàng Thị Mỷ, Chủ tịch Hội phụ nữ xã Tả Phìn không?". Chưa bao giờ được biết đám ma của nguời Mông, tôi "bám càng" luôn.

Trời mưa dầm dề. Đường núi trơn trượt. Sau bờ rào đá cao quá đầu người, người ra, người vào, ai nấy đều lặng lẽ.. Tiếng khèn, tiếng trống não nề. Người nhà chị Mỷ ra tận bờ rào đá đón khách, cầm tay lấy chúng tôi bằng hai tay, chỉ cho chỗ thắp nhang.

Mới bước 1 chân qua cửa, tôi lạnh sống lưng khi nhìn thấy thi hài người chết thẳng đơ treo trên vách đối diện cửa ra vào. Nghe kể, đọc sách, đã biết chuyện này nhưng tim tôi vẫn nhẩy nhót liên hồi, tưởng văng ra khỏi lồng ngực. Tôi cố trấn tĩnh, quan sát.

 Người chết được bó lại, đắp chăn mới phủ kín từ đầu đến chân và được đặt trên 1 cái giàn làm bằng  tre sơ sài, chỉ vừa đúng bằng thân hình người đó.  Dưới dàn treo người chết là cái lồng nhốt 1 con gà trống nhỏ bằng vốc tay.

Theo phong tục, khi có người qua đời, người Mông họ Giàng tắm rửa sạch sẽ, mặc đồ mới cho người đã khuất rồi treo lên vách.  Ba ngày sau, con cháu cứ thế khênh ra nghĩa địa. Lúc ấy mới cho vào quan tài. Nhang được cắm vào 1 cái ống đặt dưới sàn nhà. Ai đến viếng cũng múc một ít cơm cho vào cái bát để cạnh đầu người quá cố, ấy là động tác mời người chết ăn cơm.

Tiếng trống tiếng khèn bỗng ngưng bặt. Từ ngoài cửa, một tốp các bà các chị, ai cũng  mặc váy áo mới ào vào, tay níu vào giàn treo theo hàng ngang, cứ thế khóc lóc, vật vã. Chật chỗ quá, không níu tay được vào giàn treo thì người nọ ôm vai người kia mà kêu than, mà kể lể. Hàng người cứ đu đưa nhịp nhàng từ phải qua trái, từ trái qua phải và tiếng khóc cũng có vần có điệu. Tôi lấy máy ghi âm thu tiếng khóc hòa điệu đó, thu tiếng khèn, tiếng trống. Đứng cạnh cái giàn treo, tay tôi cứ run bần bật. Nhầm lẫn lung tung, phải ba lần nhấn đi nhấn lại, máy ghi âm mới báo hiệu "recording". Chưa bao giờ, thao tác bật máy ghi âm của tôi lại ...như có ma ám như vậy...May mà tôi đã vượt qua được nỗi sợ hãi của chính mình để có một chương trình khá sống động giới thiệu về phong tục tang ma, một trong những nghi lễ đời người quan trọng.

“….HỒN NGỦ NƠI THẮT LƯNG EM…”

minhhuevov | 23 February, 2010 16:50

 

          Mùa xuân cũng là mùa hò hẹn của các nam thanh nữ tú vùng cao. Các chàng trai cô gái Mông bày tỏ tình yêu bằng lời hát, bằng tiếng khèn, tiếng sáo. Vì thế, trong kho tàng dân ca Mông, những bài hát về tình yêu nam nữ chiếm số lượng lớn. Trong số 187 bài dân ca Mông được sưu tầm và xuất bản có tới 140 bài ca về tình yêu hay còn gọi là dân ca giao duyên.

          Những bài hát về tình yêu này, người Mông gọi là "Gầu plềnh". Con trai con gái Mông hát "Gầu Plềnh" khi đi chợ, đi làm nương, hát trong ngày hội Gầu Tào. Hát  tình yêu gồm những bài hát tỏ tình, tương tư, thề thốt với tất cả các cung bậc tình cảm, có nhớ nhung, có ca thán vì những éo le trắc trở. Dân ca giao duyên của người Mông luôn đề cao tình yêu chân chính, coi trọng hạnh phúc gia đình, thể hiện khát vọng yêu mãnh liệt. Họ quan niệm tình yêu là dâng hiến, là trọn đời vì nhau, như lời bài hát:

          Gió về thổi lá cây bên khe

          Nếu ta là hạt mưa sương

          Ta xin tan trên bàn tay nàng

          Gío về thổi lá cây, lật ngả nghiêng bên suối

          Nếu ta là hạt mưa sương

          Ta xin tan dưới bàn chân nàng

          Dân ca Mông chở nặng yêu thương. Bao nhiêu lời ca là bấy nhiêu lời bầy tỏ tình yêu, nỗi nhớ nhung, giận hờn, trách móc. Dường như không hát thì thôi, đã hát thì giãi bày cho hết, cho thoả nỗi lòng. Vì vậy mà những bài dân ca Mông có cảm giác như hát mãi không hết. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Bình, Phó giám đốc Sở Văn hoá-Thể thao-Du lịch Lào Cai cho rằng: "Dân ca của người Mông rất dài vì bài hát của người Mông mang tính chất kể. Do vậy, giai điệu của nói được lặp đi lặp lại không có sự phát triển theo dạng của các nhạc sĩ sáng tác ca khúc bây giờ. Họ nghĩ cái gì họ kể cái đó bằng giai điệu, đặc biệt là vừa đi vừa kể, vừa đi vừa hát, vừa đi vừa nói.  Nghĩ cái gì nói cái đó bằng âm nhạc"

          Có lẽ do tính chất kể lể như vậy cho nên qua những bài dân ca, người nghe hiểu được những cảnh ngộ, tâm tình của người trong cuộc thật rõ nét:

          Mình hỡi,

          Mình hẹn mình ở làm gái tơ chờ ta

          Ta đi vài năm kiếm bạc trở về cưới mình

          Bạc ta chưua kịp đầy túi, mình đã đi lấy chồng

          Đêm nay, mình theo ta nói lời tâm tình

          Ngại rằng mình đã có người khác tốt hơn

          Trong bốn mươi tám thớ tim mình, người ấy đứng sừng sững

          Chính sự giãi bày tình cảm theo kiểu kể lể như vậy tạo nên vẻ đẹp hồn nhiên, chân thành, tìm được sự đồng cảm của người nghe. Những bài ca về tính yêu của người Mông phần lớn là những bài ca rất dài, thường từ 8 đến hơn 10 phút. Có cảm giác lời bài dân ca Mông cứ dạt dào, tuôn chảy trên môi người hát, bởi theo chị  Hùng Thị Hà, người dân tộc Mông, giáo viên trường Cao đẳng Sư phạm Hà Giang thì: "có như thế mới diễn tả được hết điều mà những trái tim yêu muốn nói với nhau". Tôi rất thích cách dùng hình ảnh để bầy tỏ tình yêu của dân ca Mông, chằng hạn như: "Cái bụng anh thương em nhiều như lá rừng". Khi tỏ tình hay khi diễn tả niềm thương nỗi nhớ, các chàng trai Mông thường khéo léo mượn cảnh vật để nói hộ lòng mình. Chị Hùng Thị Hà cho biết: "Dân ca Mông có những nét rất độc đáo, không lẫn vào bất kỳ loại dân ca nào. Ví dụ khi bày tỏ khát vọng tình yêu có lời hát: "Anh ước làm 1 cái kim, sợi chỉ cho em cài vào vạt áo, để suốt đời không rụng, không rơi". Nếu như ca dao của người Kinh bày tỏ nỗi nhớ: "nhớ ai bổi hổi bồi hồi, như đứng đống lửa, như ngồi đống than". Hay như dân ca Giáy tả nỗi nhớ: "nhớ quá, cơm quên xới. Nhớ quá cơm quên ăn" thì dân ca Mông bày tỏ: "Đêm đã rạng, lối đi sáng tỏ. Anh lê bước về nhà mà hồn còn ngủ nơi thắt lưng em".

          Không biết các bạn thấy thế nào, còn tôi, tôi đặc biệt thích thú và ngưỡng mộ người nghệ sĩ dân gian Mông diễn tả nỗi nhớ, diễn tả niềm khao khát cháy bỏng của tình yêu: "Anh lê bước về nhà mà hồn còn ngủ nơi thắt lưng em". 
         Cho đến nay, con trai con gái Mông vẫn như cha anh mình thuở trước, lấy tiếng đàn, lời hát để  giãi bầy tâm tư, bày tỏ lòng mình với người yêu dấu.

      

                Đẹp là phải có chiếc răng vàng

CÁ – NƯỚC

minhhuevov | 20 February, 2010 14:17

 

Cá nói: Anh không nhìn thấy nước mắt của tôi, vì tôi sống trong nước.

 Nước nói: Tôi có thể cảm nhận được nước mắt của em; vì em ở trong trái tim tôi!

HỌ HÀNG

minhhuevov | 20 February, 2010 13:57

 

Bi ơi, mẹ đâu rồi?

- Mẹ anh lên nhà cô Nga rồi. Cô Nga là chỗ họ hàng với nhà anh đấy mà. (Thực chất là bạn bè)

- Ah thế à. Anh Bi học môn Tiếng Việt chưa? Môn mà nói về họ hàng ý?

- Đâu, đấy là môn xã hội.

- Ừ. Môn xã hội. Thế em gái của mẹ gọi là gì?

- Em gái của mẹ á? Thì gọi là dì.

- Ừ, vậy em trai của mẹ gọi là gì?

- Em trai của mẹ gọi là cậu.

- Thế cô Nga họ với nhà mình là họ gì vậy?

- À, là họ mày tao đấy.

CHỌN

minhhuevov | 20 February, 2010 13:52

 

Hai mẹ con học tiếng Anh, thấy Bi học từ handsome và clever, mẹ hỏi Bi:

- Bây giờ cho con được chọn 1 trong hai điều, thông minh và đẹp trai, con chọn điều gì?

- Bi nói luôn chả suy nghĩ: Con chọn cả hai. Và giải thích luôn: Thông minh để sau này kiếm nhiều tiền, còn đẹp trai thì để tán gái. 

Mẹ choáng. Cố vớt vát:

- Nhưng mà chỉ được phép chọn 1 thôi.

- Bi cười toe: thế thì con chọn thông minh.

Mẹ cười như mếu.

NHƯỜNG NHỊN

minhhuevov | 20 February, 2010 13:40

 

- Nhường nhịn nghĩa là gì hả mẹ?

- Thí dụ con có 1 cái kẹo mà em Boong muốn ăn. Con nhường cho em Boong. Nhường nhịn là 1 đức tính tốt đấy con ạ.

- Có nghĩa là nhịn để cho người khác ăn chứ gì!!!

ĐI LẤY MAY ĐÊM GIAO THỪA VỚI NGƯỜI LÔ LÔ

minhhuevov | 19 February, 2010 22:53

 

Đi lấy may đêm giao thừa là một phong tục đẹp có ở nhiều dân tộc trên khắp đất nước Việt. Nhưng ở mỗi dân tộc, cái cách đi lấy may, lấy lộc trong giờ phút thiêng liêng khi đất trời chuyển giao thời khắc lại có nét đặc trưng riêng. Với người Lô Lô, đi lấy lộc, lấy may đồng nghĩa với đi... ăn trộm của nhà khác.


Xóm Lô Lô Chải, xã Lũng Cú (Đồng Văn, Hà Giang) chìm trong biển sương mù. Ngôi nhà trình tường của ông Vàng Dỉnh Sinh trông như một cái lô cốt được bao bọc bởi màn sương trắng, đặc quánh. Tết ở Lũng Cú lạnh tê người, chỉ ấm lên một chút buổi trưa cho hoa đào kịp hồng các sườn núi.

Vợ chồng ông Vàng Dỉnh Sinh lừ khừ bước ra chào khách. Tôi mở lời: "Kính chúc ông bà năm mới mạnh khỏe, may mắn".

Bà Lù Thị Điến nắm tay tôi, cười nheo cả mắt, nói lời cảm ơn bằng tiếng Lô Lô. Áo bông to xù, mũ lông trùm kín mít. Có cảm giác như hai ông bà bước ra từ những câu chuyện cổ. Ông Sinh đưa mắt về phía bàn thờ, nói chuyện phong tục: "Ngày Tết, người Lô Lô đặc biệt chú tâm việc thờ cúng tổ tiên".  

Trên bàn thờ có bánh chưng (nhưng không phải là hình vuông mà là bánh dài), có xôi nếp, rượu. Nhưng trên chiếc bàn thờ đơn sơ ấy, thứ gây ấn tượng hơn cả với những vị khách xa lạ như tôi là những thanh gỗ nhỏ bằng ngón tay cái. Ông Sinh giảng giải: Đó là tổ tiên, là ông bà đã khuất. Trên đó có khắc hình người và tên từng người. Cứ mỗi thanh như vậy là một "cụ".

Bà Điến tiếp lời chồng: "Thờ cúng tổ tiên ngày Tết là phải làm thật chu đáo. Cứ mỗi thanh gỗ hình người biểu tượng cho một "cụ" là phải có một đôi bánh chưng dâng lên từ ngày 30 Tết. Mỗi hình người phải có một cái chén, một đôi đũa, hai chai rượu. Người khấn mời tổ tiên về ăn Tết không nhất thiết phải là ông chủ nhà mà ai cũng được, con trai, con dâu đều được hết, miễn là thuộc hết tên người đã khuất".

"Với người Lô Lô, vui nhất là đi chơi đêm 30, sau giao thừa. Mà không phải đi chơi bình thường đâu, đi lấy may, lấy lộc đem về. Đi lấy trộm của người khác ấy mà". Chị Vàng Thị Thanh, con gái bà Điến nói chuyện đi "ăn trộm" đêm 30 một cách say sưa và hào hứng như thế: "Đi lấy may không lấy nhiều, không lấy những đồ vật có giá trị, chỉ là củ hành, củ tỏi, là cây rau, thanh củi nhỏ. Và đương nhiên là không lấy cái của gia đình mình".

Người Lô Lô đinh ninh rằng trong thời khắc bước sang năm mới, nếu ai đó mang về nhà được một chút gì thì năm mới gia đình sẽ gặp nhiều điều tốt lành, làm ăn phát đạt. Người Lô Lô ở Lũng Cú (Đồng Văn) lấy mỗi thứ 12 cái, tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Còn người Lô Lô ở Mèo Vạc lại chọn con số 3, hoặc là 3 củ hành, 3 củ tỏi, hoặc có thể là 3 lá rau... Chị Thanh bảo, người Lô Lô ở Lũng Cú kiêng chuyện nhổ trộm tỏi mà không nhổ hết, bị đứt vì họ cho rằng như thế sẽ gặp điềm gở, không tốt. Nếu chẳng may nhổ không đứt thì chớ có cố mà nhổ lên. Tốt nhất là bỏ đi ngay, tìm "vận may" khác.

 

Điều thú vị là người đi lấy may không đi công khai, không rủ nhau đi, càng không muốn chủ nhà bắt được. Họ cứ âm thầm, lặng lẽ đi, có gặp người quen cũng không chào, coi như không hề quen biết. Thế nhưng nhỡ có bị chủ nhà bắt được, cũng chả sao, chẳng ai trách móc gì. Phong tục mà! Lấy may xong, người Lô Lô đi lấy nước mới, dâng lên tổ tiên rồi mới được đun lên để uống.


Sáng mùng 1 Tết, con trai, con gái tỏa ra các ngả đường, ven sườn núi chơi xuân. Váy áo, khăn mũ rực rỡ. Mỗi cô gái Lô Lô như một bông hoa nhiều màu di động. Chơi xuân với các chàng trai, cô gái Lô Lô ở Lũng Cú, bạn có cảm giác như lạc vào một rừng hoa lung linh sắc thắm, mà có khi đến quên cả đường về....

SỦI CẢO 18 MÓN…

minhhuevov | 17 February, 2010 22:27

 

   Phó giám đốc Phàm (Đài Phát thanh tỉnh Thiểm Tây) tươi cười thông báo sẽ chiêu đãi món ăn đặc sắc của thành phố Tây An. Đến Tây An mà chưa được thưởng thức sủi cảo thì coi như chưa đặt chân đến Tây An.

   Nhà hàng Cao Nhất Chi đối diện với gác chuông có từ thời nhà Minh, đêm về rực rỡ ánh đèn. Những chiếc đèn lồng đỏ cỡ lớn treo trước hiên nhà. Khác hẳn với hình dung của tôi về món sủi cảo thường ăn ở Hà Nội là những viên sủi cảo răn rúm, chả có hình thù gì.

   Cô phục vụ bàn ôm ra một chồng cồng kềnh những hộp hình trụ trông giống hệt cái rây bột trẻ con ở quê tôi, đường kính chừng 20 cm, cao khoảng 7 cm, trong bầy những viên sủi cảo nom như những tác phẩm nghệ thuật tạo hình. Mặc cho mọi người râm ran trò chuyện, cô cao giọng giới thiệu món ăn, sắc mặt không chút biểu cảm. Anh Mạnh Thắng, phiên dịch cho đoàn mắt sáng lên: "Hôm nay, họ sẽ phục vụ sủi cảo 18 món".

   Người phục vụ đưa ra 6 lượt, mỗi lượt ba loại khác nhau. Sủi cảo được chế ra theo 4 cách luộc, hấp, rán và nướng. Nhưng món hấp nhiều hơn cả. Khác với các món ăn khác bưng ra là thơm dậy mùi, sủi cảo hấp nếu chỉ bầy trên mâm, bạn chỉ có thể thưởng thức bằng mắt. Chả thấy mùi vị gì đâu. Chỉ khi nào gắp miếng sủi cảo lên cho vào miệng, cắn ra thì mới cảm nhận đủ đầy hương vị của nó. Mà nhìn những chiếc sủi cảo đẹp thế kia, ăn cũng thấy tiếc, vì sẽ làm tan biến một tác phẩm nghệ thuật. Món sủi cảo nhân thịt vịt nặn thành hình con vịt con màu vàng ươm mon như thể đàn vịt con  tung tăng bơi.

   Sủi cảo nhân thịt lợn, trộn rau, sủi cảo hải sản, sủi cảo cá được bày ra đầu tiên. Mỗi khi mang ra một món mới, cô phục vụ đều cất giọng oang oang giới thiệu. Sủi cảo Nguyên Bảo có nhân trứng và đậu xanh. Món nào cũng có tên. Có khi gọi theo hình thù miếng sủi cảo. Hoặc là gọi theo nhân trong đó làm bằng gì. Sủi cảo nhân tôm thì được nặn thành hình con tôm, sủi cảo nhân cá có hình con cá. Sủi cảo hình đầu khỉ lại trông rất tinh nghịch có tên thật sống động "Hầu vương nhập cung", tất nhiên không phải là nhân thịt "hầu" mà là nhân thịt gà. Sủi cảo tên gọi "Thủy tinh" nhìn trong vắt, hình bông hoa ba cánh, trong bọc tôm mầu hồng rất đẹp. Phổ biến hơn cả là sủi cảo hình trăng khuyết, có nhân trứng gà trộn rau, cái diềm được chau chuốt cầu kỳ và được gọi là "diềm phúc". Sủi cảo có tên Mạc La hình con gà chíp. Sủi cảo nhân gạo nếp và ngô y hệt một cái bình hoa. Thịt nào gia vị ấy, nhưng không mất đi hương vị đặc trưng của thịt gà, của tôm, cá... Phổ biến hơn cả là sủi cảo hình bông hoa, thôi thì đủ loại hoa lan, hoa cúc... Mọi người ồ lên khi anh Mao Binh, Trưởng phòng hành chính tổng hợp Cục Phát thanh, điện ảnh-truyền hình Thiểm Tây bảo: Tất cả đều được làm bằng tay chứ không phải có khuôn "đúc" sẵn. Và không chỉ phụ nữ mà đàn ông Trung Quốc nặn sủi cảo cũng khéo léo không kém. Ở các nhà hàng lớn như thế này, đầu bếp nam nặn sủi cảo nhanh thoăn thoắt như múa.          

   Khi những đôi đũa bắt đầu trễ nải thì món sủi cảo nhân ngọt được đem ra, màu nâu nhạt như khoai sọ, hình trái hồ đào, thoang thoảng vị thuốc bắc. Và sau cùng là món sủi cảo "Gia thường". Anh Mao Binh giải thích: "Gia Thường sủi cảo" tức ở nhà thường hay ăn. Chỉ những dịp lễ tết, hay trong các nhà hàng, người ta mới chế biến sủi cảo cầu kỳ, đẹp mắt thế kia, còn trong bữa ăn thường ngày sủi cảo làm đơn giản hơn, nhân chỉ là thịt lợn trộn rau, không hoa lá cành, và cũng chẳng phải hấp, phải đồ mà bỏ vào nồi luộc chín. Nom bình dị thế, ấy vậy mà theo anh Mao thì đây là món ăn rất cổ truyền.  Tôi hỏi Phó giám đốc Phàm: "Thường thì các cô vợ người Trung Quốc có thể làm được bao nhiêu món sủi cảo". Ông ngẩn người ra rồi thành thực: "Điều này tôi cũng không rõ". Cho đến khi món sủi cảo Gia thường được bưng ra thì Phó giám đốc Phàm lên tiếng: "Tôi vừa gọi điện hỏi bà xã, bà ấy bảo: "Có thể làm được 10 món sủi cảo cho 15 người ăn". Thảo nào tôi thấy ông ra chiều đăm chiêu rồi bước ra khỏi phòng ăn khá lâu. Chiều lòng khách đến thế là cùng!   
    Thưởng thức món sủi cảo, bạn phải huy động nhiều giác quan, nói như người Trung Quốc, sủi cảo là món ăn "Sắc hương vị thập toàn". Mâm cơm giao thừa ở miền Bắc Trung Quốc luôn phải có món sủi cảo. Cứ theo tục cũ thì món sủi cảo phải được gói xong xuôi trước giao thừa. Với người Trung Quốc, sủi cảo là món ăn đoàn tụ gia đình như thể bánh trưng của ta vậy.

   Đĩa sủi cảo Gia thường vơi dần, cô phục vụ bèn đặt giữa bàn ăn một bếp lửa trông rất chi là cổ kính, trên có một nồi canh, có nắp chạm khắc hình rồng. Đây là món canh kết thúc bữa tiệc sủi cảo 18 món. Lửa châm vào cháy phừng phừng, bỗng nhiên đèn trong phòng phụt tắt, cái giọng vô cảm của cô phục vụ lại oang oang. Cô nói một thôi một hồi, anh Mạnh Thắng, thông dịch viên của chúng tôi chỉ còn nước ngồi im trong bóng tối. Hóa ra là cô kể sự tích món canh này. Nồi canh sôi, cô  đem vào chừng một nửa bát nhỏ những viên bột mì bằng ngón tay út chìa ra cho thực khách xem, nói vài câu tiếng Trung, rồi thả vào nồi. Anh Mao Binh lại hào hứng giới thiệu: "Đây là món Lẩu Thái Hậu hay còn gọi là Lẩu Hoa Cúc. Chả là ngày xưa khi chạy loạn, Từ Hy Thái Hậu lưu lạc đến đất này, được người dân địa phương nấu cho món canh ấy". Có gì đâu, chỉ là nước canh rau thường ăn thả viên bột mì thế thôi. Nhưng mà là món Thái Hậu Từ Hy từng ăn khi sa cơ lỡ vận - nên thành món ăn nổi tỉếng, đẫm chất lịch sử văn hoá.

   Thực khách phấn khích hẳn lên khi Phó giám đốc Phàm giải thích tại sao cô phục vụ đơn phương tắt phụt đèn. Hóa ra tắt đèn để "bói" hên sui. Mỗi người sẽ tự múc cho mình 1 bát trong bóng tối. Hôm nay thì cô phục vụ múc giùm, tất nhiên là múc trong khi tắt đèn, rồi mỗi người tự chọn lấy bát của mình. Viên bột mì kia người múc được nhiều, người được ít, ấy là số mệnh! Nếu bát của bạn có 3, hoặc 6, hay 9 viên thì khỏi nói rồi, đó là con số của phát triển vượt bậc, bạn sẽ được thăng quan tiến chức. Nếu múc được 5 viên cũng có nghĩa là ngũ thể được khoẻ mạnh, bạn chả phải lo gì đến sức khoẻ. Còn khi bạn bát canh của bạn có 7 viên thì dứt khoát bạn sẽ được 7 ngôi sao trên trời phù hộ. Tám viên ư? Phát tài phát lộc ngay đấy. Bốn viên thì 4 mùa phát tài, còn gì sung sướng bằng! Nếu múc được 2 viên, đó là điềm báo lứa đôi hạnh phúc, ai chả mong! Một viên thôi ư, mọi việc của bạn rất thuận buồm xuôi gió. Không có viên nào thì vô tư đi, bạn là người vô lo.

Món Lẩu Thái Hậu chả có gì hấp hẫn về thực thể, bỗng trở nên vô cùng đáng nhớ.

KHÔNG ĐỀ

minhhuevov | 17 February, 2010 22:12

 

Li hn

Anh đng nói:

 Hôm nay ngày cưới ca anh

Anh đng nói:

 Hôm nay sinh nht v anh

Đng nói:

 Anh sp có thêm bé gái

Anh đng nói...

Sao anh không biết đường nói di

Tht thà anh...

                          Làm đau em

Biết không?

TÌNH NGƯỜI CHỢ PHIÊN

minhhuevov | 05 July, 2009 15:43

   Các bạn thân mến. Thời gian vừa rồi, bận rộn nhiều việc nên MH không thường xuyên chăm sóc web này, không giao lưu cùng các bạn. Hôm nay “khoe” 1 tin vui, MH vừa đoạt giải nhất khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, chương trình phát thanh với chủ đề “Sự hội nhập của cộng đồng thiều số”. Cuộc thi này do Viện Phát thanh và Truyền hình Châu Á-Thái Bình Dương phát động. Post văn bản và âm thanh lên đây, chia vui cùng mọi người.

   GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH

   Chủ đề: Tình người chợ phiên

   Thời lượng: 20 phút

   Nội dung: Khắc hoạ bức tranh bằng âm thanh chợ phiên, một sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người dân tộc thiểu số ở vùng cao Bắc Hà, Lào Cai. Đó là nơi giao thương, trao đổi hàng hoá, đồng thời là nơi giao lưu tình cảm cộng đồng. “Tình người chợ phiên” kể những câu chuyện giản dị về chuyện bán buôn sòng phẳng, không gian dối, lừa gạt của người bản địa, sự hồn hậu, chân chất, tình người nồng ấm, chân thành của người Mông, người Tày trong không gian giao thương, năng động ở chợ phiên. Người dân tộc thiểu số hoà nhập nhưng không “hoà tan” bởi vẫn giữ được những chuẩn mực ứng xử, tập tục và truyền thống văn hoá độc đáo. Chất văn hoá, chất nhân văn thẫm đẫm trong từng chi tiết.

    TÌNH NGƯỜI CHỢ PHIÊN

    Minh Huệ xin chào đồng bào và các bạn. Chúng ta lại gặp nhau trong chương trình Giao lưu văn hoá các dân tộc thứ 7 hàng tuần. Bạn đang mong một cuộc hành trình đến vùng đất nào vậy? Nghe những âm thanh này, bạn hãy đoán xem hôm nay chúng ta sẽ du ngoạn tới đâu.

    - Nhạc: Tiếng nhạc biên cương (Nhạc ngựa)

    Chắc là các bạn đã đóan biết được cuộc hành trình của chúng ta hôm nay rồi đúng không? Vâng, các bạn đang ở vùng cao phía bắc Tổ Quốc. Và điểm đến của chúng ta hôm nay sẽ là chợ phiên. Chợ có thể nói là một bảo tàng sống về sinh họat văn hoá cộng đồng mang những nét đặc sắc về phong tục, tập quán vùng miền hết sức phong phú, đa dạng. Bạn đã đi chợ phiên vùng cao bao giờ chưa? Chợ phiên vùng cao, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống có gì đặc biệt? Nếu chưa từng đến chợ Bắc Hà, Cán Cấu, Cốc Ly, Sa Pa ở Lào Cai thì đây chính là cơ hội của bạn rồi, cơ hội để khám phá nhiều nét văn hóa tộc người đặc sắc qua một sinh họat cộng đồng phổ biến – chợ phiên.

    CHỢ PHIÊN BẮC HÀ …

    - Băng: (Âm thanh ồn ào chợ nền xuống)

   Chúng ta đang có mặt tại ngày chợ phiên Bắc Hà (Lào Cai). Mới chừng hơn 8h sáng mà vào chợ, nhiều chỗ phải nghiêng người, lách mãi mới đi được. - Băng: (Nhạc kèn thu trong chợ). Chắc bạn rất ngạc nhiên khi nghe những âm thanh này đúng không? Nhưng bạn đừng lầm tưởng là đang ở trong buổi biểu diễn văn nghệ đấy. Chúng ta đang ở một góc chợ, nơi mọi người xúm quanh hai người đàn ông dân tộc Mông, cầm trên tay chiếc kèn trông giống như bông hoa loa kèn. Chủ nhân của nó, anh Giàng Seo Lùng từ tận Simacai về chợ Bắc Hà đang say sưa thổi. - Nổi âm thanh Dường như thổi kèn là cái cách hai người đàn ông dân tộc Mông “chào hàng”. Dù không mua nhưng nếu bạn muốn biết về phong tục sử dụng kèn, anh Giàng Seo Lùng vẫn rất vui vẻ giới thiệu:

   - Băng trò chuyện:

   Kèn này làm bằng gỗ, bằng tre. Cái này dùng trong đám ma, dù bày bán ở chợ nhưng dùng trong đám ma khô. Các cụ qua đời là phải thổi cho các cụ, có kèn, sáo này, trống này. Đấy là bài trong đám ma luôn, không dùng trong đám cưới, mình tự làm, lấy trong rừng đất Bắc Hà mình thôi. Làm mất đúng 1 ngày.

   - Mỗi buổi chợ bán được mấy cái hả bác?

   - Mỗi phiên chợ bán được 3-4 bộ, mỗi bộ 100.000 đ

   Ông Ly Seo Sì ở Bản Phố mang đến chợ bán hai loại nhạc cụ, kèn và khèn Mông. Ông Sì bảo rằng, cây kèn hình bông hoa này chỉ dùng trong đám ma, còn cây khèn do nhiều ống nứa nhỏ ghép lại kia thì dùng được nhiều “việc” hơn, thổi đám ma, thổi văn nghệ, và mang đi tán tỉnh bạn gái nữa

   - Băng:

   Con gái múa ô, con trai múa khèn. Nó cũng có bài thổi đi tán gái,có bài thổi đám ma.

   - Bác có biết thổi bài tán gái không?

   - Có chứ, tôi thổi cho mà xem

    Tiếng khèn tán gái

   - Đấy là gạ nó múa theo mình, nói chuyện tình cảm với nhau, tôi rất yêu cô.

   Hàng hoá ở chợ Bắc Hà chủ yếu là sản vật miền rừng, do bà con các dân tộc làm ra. Mùa nào thức ấy. Chúng tôi đến đúng dịp mùa mận chín rộ. Cơ man nào là mận, chín mọng, xếp đầy ắp gùi lớn gùi bé, bầy san sát bên vệ đường…Có 2 loại hàng hoá đặc trưng mà chợ vùng cao nào cũng có đó là rượu và thổ cẩm. Chợ Bắc Hà có rượu ngô Bản Phố nổi tiếng. Bán rượu chủ yếu là phụ nữ, còn người đi mua rượu thì thấy toàn đàn ông. Các bà các mẹ ngồi sau các can nhựa to lù. Có gã đàn ông cứ lân la hết hàng này đến hàng khác, thử rượu đến say mèm mà chưa mua được chai nào! Chả sao, người bán rượu vẫn vui vẻ nâng can rót tiếp. Chị Vàng Thị Dó, xã Bản Phố tiếp chuyện tôi, vừa rót rượu cho người đàn ông kia uống thử:

   - Băng: Chợ nào cũng phải đi bán rượu. Mình tự lấy ngô của mình nấu mà. Mình ở xã Bản Phố. Là nơi nấu rượu ngon lắm. Nhà mình nấu được 100 lít, bán 1 tuần được 400 nghìn thôi. Hôm nay chợ đông lăm, vui lắm, bán được 20 lít.

    Hàng rượu thơm nồng men rừng, thứ men tự chế từ hạt cây Hồng Mi của người Mông, còn bên hàng thổ cẩm thì rực lên sắc đỏ. Có cảm giác như lạc vào 1 rừng hoa đủ màu sắc, váy áo, túi, ví thổ cẩm, thôi thì đủ cả. Chủ hàng thổ cẩm có vẻ như bán buôn chuyên nghiệp hơn. Chị Nùng Thị Thư ở Na Thá, lưng địu con thơ mới 8 tháng tuổi. Ngày chợ phiên nào chị cũng đem thổ cẩm đi chợ bán. Chị bảo, chợ phiên Bắc Hà dạo này có nhiều khách Tây nên hàng bán được nhiều:

   -Băng: Tuần nào cũng đi bán hàng thổ cẩm. Không cấy thì đi chợ Cốc Ly, Khe Tám. Hai vợ chồng đi bán. Đang cấy, làm cỏ ngô là không đi được. Nếu đi chợ cũng có lúc được nhiều, làm cả năm rồi, hôm nào may thì bán được nhiều, cũng đủ ăn.

    Cũng như chị Thư, Ly Thị Seo ở xã Lù Thành, cách chợ 20 cây số, phiên chợ nào cũng có mặt. Và theo lời Seo thì hai vợ chồng bôn ba khắp các chợ phiên trong vùng.

   - Băng: Đi hết cả các chợ trong tuần, chợ Cán Cấu, chợ Si, chợ Bắc Hà. Những ngày không có chợ thì ở nhà làm túi để những ngày có chợ đi bán

   - Băng: Ly Thị Seo, 27 tuổi, Xã Lù Thành, 3 con, cách 20 km, Cái này tự làm hết, 3 cái thêu ba tháng đấy, Thêu 1 năm được 9 sải - Cái túi này bán bao nhiêu ? - Bán được 80, đẹp thì được 150 nghìn, Tuần nào có nhiều người mua thì được 800, 700, nếu không có ai mua thì đủ tiền xăng. Hôm qua đi chợ Cán Cấu, hôm nay mới đi chợ Bắc Hà. Một tuần ở đâu có phiên chợ là mang đến bán.

   Chợ đông kẻ bán người mua. Người có cả 1 sạp hàng. Nhưng cũng có nhiều người vượt hàng chục cây số về chợ cũng chỉ bán mỗi một cây khèn. Có người cắp nách chỉ một con gà trống. Chàng trai Mông Sùng Mí Chá xách hai cái lồng chim hoạ mi, đi bộ gần chục cây số về chợ. Và rất nhiều người tay không đến chợ, không mua gì và cũng chẳng có gì bán. Đi để ngắm người, để một ngày được sống trong vui nhộn, ồn ã cho bõ cả tuần lặng thầm nơi đỉnh núi, ngọn đồi như những cô gái Mông này chẳng hạn:

   - Băng: Hôm nay chủ nhật, các em đến chợ mua những gì?

   - Không mua gì cả, đến chơi thôi. Bạn này ở cùng thôn, em ở La Hối.

    - Cái này em đi mua hay tự làm lấy?

   - Tự làm, váy thì đi mua, hai ba tháng mới làm được một bộ.

    Người vùng cao đi chợ không phải chỉ để bán mua, giao thương thông thường, mà còn vì nhu cầu được gặp gỡ bạn bè, giao lưu tình cảm. Với họ đi chợ là đi hội. Nơi chợ đông mới cơ hội gặp gỡ, làm quen, giao lưu.. Thành ra ai cũng diện bộ cánh thật đẹp, thật mới. Nhiều mối tình đẹp khởi nguồn từ chợ phiên…Nhiều tổ ấm gia đình được nhen nhúm..

   - Băng Âm thanh chợ

    10 h trưa chủ nhật. Con đường từ thị trấn Bắc Hà vào chợ, người người vẫn nườm nượp đổ về. Làm nên vẻ đẹp ấn tượng của chợ Bắc Hà chính là phụ nữ với những sắc phục đủ màu. Đep nhất vẫn là trang phục của phụ nữ Mông Hoa. Váy xoè rộng như đuôi công với hai màu vàng, đỏ nổi trội, đầu cũng đội khăn thổ cẩm. Mỗi cô gái như một bông hoa sặc sỡ. Họ đi từng tốp, từng tốp, cười nói rôm rả, đi đến đâu là bừng sáng cả 1 góc chợ, cuốn theo những ánh mắt nhìn say mê, đắm đuối… Góp nên sắc màu chợ phiên Bắc Hà bây giờ không chỉ có 14 sắc phục dân tộc quanh vùng mà còn có rất nhiều du khách khắp nơi trong và ngoài nước.

    - Nhạc Sáo Mông vùng Tây Bắc nền

   MÓN ĂN CỘNG ĐỒNG

   Thưa các bạn. Ai đó rất có lý khi nói rằng, muốn biết đời sống kinh tế, văn hóa của một vùng hãy ghé vào chợ phiên. Đến chợ phiên vùng cao, bạn sẽ được thỏa mãn đôi tai, con mắt và nếu như gặp được người hay chuyện bạn sẽ có cơ may được khám phá rất nhiều chuyện thú vị về văn hóa của một cộng đồng. Bà con dân tộc thiểu số, nhiều người thông thạo tiếng phổ thông lắm rồi chứ không như trước kia. Một trong những yếu tố làm nên nét đặc sắc của chợ phiên vùng cao chính là văn hóa ẩm thực. Đã bao giờ bạn nghe nói đến món ăn có tên gọi là “thắng cố” chưa? Đây là món ăn độc đáo của người Mông chỉ có ở vùng Tây Bắc.

    Thắng cố là từ đã được gọi chệch âm đi rồi, thực ra phải gọi là thảng cố, theo tiếng Mông, nghĩa là nồi nước. Đó là một món canh thịt, nếu đó là thịt ngựa thì gọi là thắng cố ngựa, thịt bò thì gọi là thắng cố bò, còn nấu từ thịt dê tất nhiên là thắng cố dê. Theo lời người già thì ngày trước, người Mông chỉ chế biến thắng cố từ thịt ngựa, và chỉ bằng thịt ngựa mới ngon. Thế nên con ngựa đôi khi được gọi vui là “Con Thắng Cố”. Bây giờ, các phiên chợ vùng cao ở Lào Cai, Hà Giang có đủ loại thắng cố: Trâu, bò, dê, thậm chí là chó... Và thắng cố đã thành món đặc sản ở nhiều nhà hàng, khách sạn. Tuy nhiên, ăn thắng cố phải ở chợ phiên, giữa đông vui nhộn nhịp mới thực là ngon và đúng với tính chất “cộng đồng” của món ăn này.

    - Băng âm thanh chợ khu ẩm thực

   Tại một góc chợ Bắc Hà, chảo thắng cố bốc hơi nghi ngút, thơm một mùi thơm khiến cho người ta phải thèm ăn, chủ hàng là người đàn ông trung niên rất vui tính tên là Thèn văn Nùng. Thực khách ngồi ăn ngay tại chỗ quanh những cái bàn thấp tè. Anh Nùng bảo cả chợ chỉ có hàng nhà anh chuyên thắng cố trâu:

   - Băng: Trâu thịt nó cứng hơn thịt bò, ngựa, nó ngọt hơn, gia giảm mình cũng phải khác hơn, sả, thảo quả, hoa hồi, quế, lá chanh, lá hẹ, hạt dổi. Tuần nào tôi cũng bán ở chợ này, chỉ có thắng cố trâu. Mình có cách hãm đừng cho nó có mùi, lúc nào cũng đông khách.

   Hàng thắng cố ngựa của anh Tráng Trọng Long, người dân tộc Mông cũng đông không kém. Theo anh Long thì chế biến thắng cố không có gì gọi là phức tạp. Thịt, xương, và cả "lục phủ ngũ tạng" được chặt ra thành từng miếng, cho vào một cái chảo gang, chất củi đun sôi sùng sục cho đến khi tất cả đều mềm, ngấm mùi gia vị. Gia vị nấu thắng cố là những gì? Anh Tráng Trọng Long rất vui khi được khoe món ăn đặc trưng của dân tộc mình.

    - Băng: Nấu thắng cố, nói chung gia vị rất nhiều, thảo quả, hoa hồi với lá thắng cố, quan trọng nhất là lá thắng cố

   - Lá thắng cố tôi thì tôi nhìn thấy nó như là hẹ ở dưới xuôi

   - Đúng rồi, nó có mùi rất thơm - Rất đặc biệt, nếu 1 nồi thắng cố mà nó không có cái lá này thì nó không thành thắng cố?

    - Vâng ạ, nó là lá thắng cố luôn. Thịt ngựa mình chặt ra rồi mình thái như thái đậu phụ ấy, ướp những gia giảm như thảo quả với hoa hồi với lá thắng cố này rồi cho vào nồi ninh, ninh nhừ, song là được ăn luôn.

    Tôi có cảm giác như mụ mị đi bởi mùi thơm nồng cực kỳ quyến rũ của gia vị bốc lên từ chảo thắng cố ngựa này. Chẳng cần bảng hiệu quảng cáo, chẳng cần mời chào ỏm tỏi mà các hàng thắng cố lúc nào cũng đông đúc người ăn. Tất nhiên, ăn thắng cố, nhất là đàn ông, không thể thiếu chén rượu uống cùng bạn bè. Nguyễn Trọng Hùng hể hả: 

    -  Băng: Thắng cố là món ăn của đồng bào dân tộc Mông, là món ăn đặc trưng. Món thắng cố này thì, ăn nó rất là dễ ăn, cái thứ hai nó là cái món thập cẩm có cả lòng cả thịt, cho nên rất hợp cho những người uống rượu

   - Cái chính là cho người ta gặp gỡ trò chuyện lai rai?

   - Vâng, thắng cố là 1 trong những chỗ tập trung đông nhất để anh em giao lưu. Những cái chợ vùng cao thì những phiên chợ vào chủ nhật thì lúc nào cũng có thắng cố.

   Xem ra món thắng cố của người vùng cao cũng quyến rũ khá nhiều thực khách từ phương xa từ miền xuôi lên:

   - Băng: Hương vị món thắng cố này không thể tả được, nó ngọt, thơm, lạ, nó có riêng hương vị Bắc Hà - Rất là ngon, lần đầu tiên ăn, có cảm giác, thắng cố ấn tượng. Nó đặc biệt, chỉ có mỗi nơi này có thôi, rất là ngon, cay cay mắt một tí, ngồi bàn thấp thấp, chỉ cần 1 bát, 1 chén rượu là đủ ngon rồi.

    Đó là cảm nhận của anh Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Hải Đăng, những du khách tôi gặp ở chợ Bắc Hà. Và không chỉ có các du khách mà hàng thắng cố còn là điểm đến của rất nhiều đàn ông, phụ nữ, con trẻ. Chỗ thì toàn đàn ông vui bạn bè, đãi đằng nhau. Chỗ thì cả gia đinh vợ chồng con cái quây quần. Người Kinh, người Mông, người Tày, cả Tây ba lô, đều tìm đến chốn này. Hai vợ chồng người Mông bán gà xong, dắt con vào hàng thắng cố. Chị vợ lấy túi mèn mén ra, mua bát thắng cố, chan vào, thế là cả nhà được bữa trưa ngon lành. Thắng cố không chỉ là món ăn ngon, dân dã mà đó còn là cái cớ để anh em bạn bầu gặp gỡ, hàn huyên. Đến các chợ phiên vùng cao, chỗ nào đông vui nhất, thế nào cũng có chảo thắng cố. Các chợ phiên vùng cao ở Lào Cai, Hà Giang nơi tôi đến, hầu như đều có thắng cố, như thể không có thắng cố thì không thành chợ vậy! Thắng cố thường ăn bằng bát to và nhất thiết phải có bạn để hỏi thăm chuyện gia đình, nương rẫy, để mời nhau bát rượu ngô. Tình bạn cũng nảy sinh bên chảo thắng cố. Hợp nhau là say bí tỉ. Tôi thấy thật có lý khi ai đó khái quát rằng: “Thắng cố là món ăn dân dã, đại chúng, mang tính cố kết cộng đồng, làm cho người ta nhanh gần nhau hơn và dễ hiểu nhau hơn. Cao hơn một món ăn, đó còn là nét văn hoá mà qua đấy, ta thấy rõ những chuẩn mực ứng xử, tập tục và truyền thống văn hoá của một dân tộc giữa nhiều dân tộc, trong một phạm vi không gian giao tiếp rộng rãi và khoáng đạt”..

   - Nhạc khèn, sáo Tây Bắc

   Thưa các bạn. Ở Lào Cai, Chợ Bắc Hà họp một tháng bốn phiên vào mỗi sáng chủ nhật, chợ Cán Cấu họp vào ngày thứ 7… Chợ Cốc Ly cũng là phiên chợ đáng để bạn khám phá. Chợ phiên được coi là sinh hoạt văn hóa tinh thần đặc sắc và không thể thiếu của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao phía Bắc. Chắc chắn bạn sẽ có cảm nhận của riêng mình. Tôi cũng vậy, tôi thích nhất là được trò chuyện, kết bạn, giao lưu ở chợ phiên, người vùng cao thật hồn hậu. Còn đây là những nhận xét của bạn Thu Trang, chúng ta cùng chia sẻ.

    LẠ LÙNG CHUYỆN BÁN MUA

    Đến các chợ phiên vùng cao, điều khiến tôi thích thú không chỉ là những âm thanh, sắc màu rất đặc trưng mà là cái cách mua bán của người vùng cao. Có một cái gì đấy chân chất, mộc mạc, thân tình. Hiếm khi thấy người ta to tiếng, tranh mua tranh bán ở chợ. Còn nhớ lần đi chợ Sa Pa, mấy cô bé người Mông đi theo mời mua những chiếc dây đeo tay dệt bằng thổ cẩm. Tôi ngần ngừ. Cô bé lưng cõng em, nói tiếng Kinh khá là thạo nằn nì: “Chị mua đi, đẹp lắm” rồi săng sái đeo vào tay tôi…Hỏi bao nhiêu tiền? “Hai nghìn thôi!”. Không lấy thừa, và cũng không thể ít hơn. Thế nhưng khi đã thân quen rồi, cô bé đã tặng cho tôi cả nắm, cũng không nói dài dòng, chỉ một câu : “Mang về làm quà tặng cho bạn bè”. Trả tiền thì nhất định không cầm tiền. Sòng phẳng lắm, bán là bán, đã cho là cho luôn. - Băng âm thanh ồn ào thu ở chợ Hàng thổ cẩm được bày bán ngay bên lề đường, bạn tha hồ xem, kể cả bởi tung lên mà chọn, rốt cuộc, bạn chả ưng cái nào cũng không sao, chị phụ nữ Mông tên Sùng Thị Mỷ bán thổ cẩm vẫn tươi cười. Thậm chí nếu bạn muốn biết quy trình làm nên tấm thổ cẩm đó ra sao, chị cũng sẵn lòng kể cho bạn nghe ngay lập tức. Có vẻ như chị Mỷ không quan trọng lắm cái việc có bán được hàng hay không mà rất lấy làm hãnh diện vì có người thích tìm hiểu về đồ thêu của dân tộc mình. Câu chuyện giữa chúng tôi cứ ngắt quãng vì có người hỏi mua hàng. Mua bán xong, lại chuyện. Có vẻ như bán không phải là mục đích tối thượng ở những con người thuần phác này, mà cái chính là để vui với cảnh chợ, vui với cả khách mua. Không nhăn nhó, khó chịu vì bị làm phiền. Cho nên đôi khi chỉ cần đến chợ phiên, bạn sẽ thu thập được khá nhiều thông tin về cuộc sống bản làng. Và không chỉ được nghe kể, bạn còn được xem bà con người Mông, người Dao trực tiếp làm ra những sản phẩm thủ công ngay tại chợ như đồ thêu thổ cẩm, đồ rèn đúc. Có câu chuyện về 1 người đàn ông Mông đi bán mèo. Hỏi con mèo này có bắt chuột giỏi không? Anh thật thà: “Chuột thì không bắt đâu, nhưng gà thì cứ phát một, phát một”. Cứ theo thiển ý của tôi thì có ai còn muốn mua mèo của anh nữa! Nhưng người vùng cao là thế. Không nói dối, hàng xấu bảo là xấu, đồ tốt nói là tốt, không lèo lá, lừa lọc. Đến khu vực bán ngựa ở chợ Bắc Hà, tôi mới thấy đúng là chuyện bán mua ở đây thật lạ. Thật thú vị. Rõ là người đàn ông kia đã ưng ý con ngựa của anh Vàng Seo Pu, người Mông ở Bản Phố, đã quyết mua rồi, ngã giá rồi, đồng ý bán với giá 3 triệu đồng rồi, vậy mà Vàng Seo Pu còn chần chừ mãi. Khi người đàn ông kia bực tức bỏ đi, tôi dò hỏi: “Sao lại không bán?”, Seo Pu mới bộc bạch: “Tự dưng thấy không thích bán ngựa cho nó”, thế thôi. Tự dưng thấy không thích thì không bán dù chỉ là linh cảm. Tìm hiếu tôi được biết, với người Mông, đi bán ngựa không phải chỉ cần tiền mà còn kén cả người mua theo kiều: “Chọn mặt gửi ngựa”. Người mua ngựa của mình có tử tế, có là người tốt thì bán, không thì thôi. Chuyện mua bán tưởng chỉ cần gặp nhau ở giá cả, hóa ra còn biết bao điều khác nữa…Chợ vùng cao thẫm đẫm chất nhân văn là vậy!

   - Nhạc nền “Đi chợ Sa Pa…”

    Bạn ở thành phố, hay vùng đồng bằng, phương tiện đi lại của bạn là gì? Xe đạp, xe máy, hay ô tô? Với người vùng cao trước đây cũng như bây giờ, phương tiện đi lại thuận tiện nhất vẫn là ngựa. Bởi nhiều nơi, đèo cao dốc đứng, chỉ có thể đi bằng ngựa. Bất kỳ một phiên chợ vùng cao nào, ngoài bãi để xe ra còn có 1 bãi dành riêng cho các chú ngựa thồ. Ngựa với người vùng cao không đơn thuần là thứ phương tiện chở hàng hóa mà đó còn là bạn tri kỷ. Chả thế mà người vùng cao rất thấu hiểu tâm tính của loài vật này. Có thể bạn đã biết thế nào là một con ngựa hay, nhưng cách chữa bệnh tương tư cho ngựa thì tôi tin là bạn chưa tỏ tường đâu..Vậy thì đừng vội tắt radio...hãy tiếp tục theo dõi chương trình cùng chúng tôi.

    MÓNG NGỰA CHỮA BỆNH TƯƠNG TƯ…?

    Anh Vương Văn Triển, người dân tộc Tày ở xã La Hối, Bắc Hà, Lào Cai bảo rằng: Từ bé đã thấy nhà mình, bản mình có nhiều ngựa. Ngựa thồ thì thường là ngựa đực. Đơn giản vì ngựa đực khoẻ gấp nhiều lần ngựa cái. Đi mua ngựa phải biết chọn ngựa hay, ngựa qúy. Người “sành” ngựa chỉ nhìn qua là biết.

    - Băng: Ngựa tốt thì chọn độ cao này, chân sau phải thẳng, móng dày, móng đứng thì ngựa mới khoẻ, chân ngựa mà cong cong thì ngựa không ra gì rồi. - Độ cao ấy mình phải đo hay ước chừng thôi? - Ngựa nó tầm khoảng mét 2, mét 3. Bờm nó phải dựng, cằm nó phải rộng ngựa mới tốt, ngực nở thì ngựa mới khoẻ. Con ngựa ngực nó hẹp thì thồ hàng không khoẻ.

    Ngoài ra, “dung mạo” chàng ngựa cũng phải kha khá. Ngựa có “dung mạo” được coi là đẹp phải có mũi khô, mắt sâu, sáng, răng đều, lông óng mượt, đuôi dài. Đặc biệt, chọn được con nào có xóay tròn ở tai thì yên tâm về khỏan trí tuệ của ngựa. Dân sành ngựa truyền nhau rằng, những con có xóay tròn ở hai tai là rất thính, nghe được từ xa, lại biết đâu là tiếng chủ, đâu là tiếng người lạ, thậm chí biết được xung quanh có thú dữ, hoặc kẻ xấu rình rập. Đi vào đoạn đường ngựa linh tính thấy có tai ương là y như rằng chúng “quyết” không đi, đòi quay đầu lại bằng được. Đó là ngựa cực quý! Cái xóay tròn trên mình ngựa là những tín hiệu mách bảo ngựa khôn ngoan hay đần độn. Có xóay ở hai tai đã là qúy, con nào có xóay tròn ở hai gối trước thì lại càng qúy hơn, nó không những có “trí” mà còn có “tâm”, rất trung thành với chủ. Nếu tìm được con ngựa hai tai có xóay tròn, 4 gối cũng có xóay tròn thì bạn đã có vàng ròng ở trong nhà rồi đấy! Nhưng theo lời anh Vương Văn Triển, loại này cực hiếm, khó tìm. Nói về nết ăn thì ngựa là giống… “ăn vặt” vô địch! Một khi không đi chở hàng, nó ăn suốt ngày suốt đêm, lúc nào cũng bỏm bẻm nhai cỏ và nhai không ngừng nghỉ. Anh Triển “nói xấu” con ngựa nhà mình:

   - Băng: Ngựa mà không đi làm thì nó ăn suốt đêm suốt ngày luôn. Nó không có dạ dày, có mỗi cái lòng già thôi thì ăn đến đâu nó tuột đến đấy luôn mà ăn suốt đêm nó cũng ăn được. Bình thường không làm nó ăn gấp đôi lúc làm. Ví dụ nó làm nó chỉ ăn 15 mớ cỏ bằng này thôi, nếu ở không nó phải ăn 30 mớ bằng ấy.

    Có vẻ như đúng với câu của dân gian: “Nhà giàu tham việc, thất nghiệp tham ăn”! Về khoản trí nhớ thì ngựa thật tuyệt vời. Chỉ cần chất hàng lên lưng, chở đến công trường, dù xa đến mấy, đường ngoằn nghèo, lắt léo đến đâu nhưng khi “mã hồi”, chủ chẳng cần để ý, cứ đánh 1 giấc ngon lành là ngựa chở về tận nhà, không bao giờ sợ lạc đường. Về đến nhà, lại chất hàng và quất roi lên đường, thế là ngựa lại đi đúng con đường cũ, đến công trường. Nan giải nhất vẫn là chuyện ngựa “yêu”, anh Triển bảo: “Mình nuôi ngựa thồ nên phải hết sức đề phòng bọn ngựa cái. Không cho các nàng sán đến gần chàng ngựa nhà mình, và tuyệt đối không cho bọn chúng ngửi nhau. Không nhìn thấy nhau thì thôi, một khi gặp nhau, rồi hít hít, ngửi ngửi thì chúng sẽ phải lòng nhau, như ăn phải bùa mê thuốc lú, “động hớn” lên thì khó “giải” lắm”! Chàng nâu nhà anh có lần phải lòng một nàng ngựa trắng, bị cấm cản, không cho gần nhau, thế là chàng nâu mắc bệnh tương tư, bỏ ăn ba ngày liền. Cỏ non cũng mặc, ngô tươi cũng không thèm, cháo cám cũng ngó lơ. “Nó dỗi đấy! Mình phải chế thuốc cứu nó, nếu không nó bỏ ăn lâu, nó yếu đi thì mình sạt nghiệp”. Chế thuốc chữa bệnh tương tư cho ngựa xem ra cũng không mấy phức tạp. Có vẻ như đã phổ biến trong “toàn ngành chăn nuôi ngựa” ở vùng cao, nên anh Triển chả cần bí mật:

   - Băng: Nó động đực mà con đực không cho theo nó cũng bỏ ăn. Mình phải đi cắt móng của con ngựa đực, đốt thành than, xông nước cho nó uống thì nó mới ăn. Kể cả ngựa đực cũng thế, nó không được đạp mình cũng phải cắt móng con ngựa cái, cắt móng xông nước cho uống thì nó hết.

    Rất hiệu nghiệm, uống xong, ngựa quên liền, chả còn nhớ nhung, quyến luyến gì sất, lại ăn cỏ bình thường, lại lúc cúc thồ hàng chăm chỉ. Từ cái đận ấy, ra đường, hễ thấy bóng ngựa cái là anh Triển lẳng lặng quất roi, cho chàng nâu rẽ sang ngả khác. Xa một chút nhưng an toàn! Nhớ đường là thế, nhưng một khi nhìn thấy ngựa cái, trót ngửi ngửi, hít hít là bọn chúng không biết đường mà về nhà nữa! Anh Triển không muốn cho chàng nâu “yêu” vì một lý do rất chi là …ích kỷ. Anh tính toán:

    - Băng: Nó nhảy ngựa cái thì nó mệt bằng 3 ngày đi làm, mệt hơn 3 ngày đi làm. Nó nhảy ngựa cái 1 lần, mình cân nó phải hao đến 20 cân. Như ngựa nuôi ở nhà 5- 6 năm chưa bao giờ cho theo ngựa cái đâu. Nó mà đi theo ngựa cái về nhà nó hớn đực thì 2-3 ngày nó không ăn luôn. - Nó mà không nhìn thấy ngựa cái thì thôi? - Không nhìn thấy thì thôi, bình thường. Nó đã ngửi nó hớn đực mà nó không được đạp thì nó không ăn luôn. Nó động đực không cho theo thì thôi, nó không ăn, nó dỗi. Em đi thồ mà họ đến xin giống cho tạ thóc cũng không cho, không thấy. Đang thồ công trình mà cho theo thì mình không thồ được, hỏng luôn mà.

    Cứ xem cái cách anh Triển vỗ vỗ vào má chàng nâu, chải bờm cho nó, còn chàng nâu thì cúi đầu dụi dụi vào tay chủ, mới thấy ngựa với người miền núi thật như thể bạn tri kỷ.

   Và những chuyện vui về ngựa của người miền núi đã khép lại chương trình GLVH hôm nay. Minh Huệ thực hiện chương trình cùng Thanh Tuấn và Đỗ Minh.. Cảm ơn các bạn đã lắng nghe.

MẮM ĐI TRƯỚC RƯỚC ĐƯỚC LÊN

minhhuevov | 31 March, 2009 23:28

   MH vừa ở Đất Mũi về. Đi xuồng cả tiếng đồng hồ ra đến "gót chân hồng Đất Mũi Cà Mau". Rưng rưng trên mảnh đất cuối trời.
 
 
      
      Thích nhất là cây đước với bộ rễ chùm "hầm hố". Thích cả chuyện đước, mắm cưu mang nhau giữ đất, lấn biển.

      Mắm và đước có công lớn trong “công cuộc” lấn biển, phát triển rừng ngập mặn nơi đất phương Nam. Mỗi năm mũi Cà Mau lấn ra biển 80 đến 100 m phần lớn nhờ hai loài cây này.
     

      Rễ mắm lạ lắm, toàn mọc ngược, dày đặc, chĩa thẳng lên trời chứ không chui xuống đất. Phù sa vì thế mà có nơi neo đậu, bám víu vào, lắng đọng thành bùn đất.
      Rễ đước mọc thành chùm lớn, khum khum như trăm nghìn chân cua, xuyên xuống, quắp sâu vào đất, giữ chắc lấy đất.
      
      Lá đước xanh đậm.
      Lá mắm nhạt hơn, nhìn từ xa như có hai màu, mặt trên của lá màu xanh, mặt dưới của lá ngả sang màu xanh trắng. “
      
      Mắm đi trước, rước đước lên” là câu chuyện làm quà đầu tiên của người dân đất Mũi kể cho khách xa.
      Này nhé, quả mắm già rụng xuống, nảy mầm, mọc rễ trong nước, dạt vào các bãi lầy, sinh sôi. Khi cây mắm về già, tàn lụi, cây đước lập tức chiếm chỗ ở của mắm, sinh con đẻ cái, “gây dựng cơ đồ”...
      Nhưng đước cũng “biết điều” lắm, chả cướp không nhà của mắm.
       Đước có lợi thế về mặt hình thể, với bộ rễ chùm cực kỳ “khủng bố”, nom như những con cua khổng lồ gồng mình lên đỡ thân cây, bám sâu vào đất. Ấy thế nhưng loài đước lại rất kém cỏi trong việc duy trì hạt mầm tương lai của mình nên phải “trông cậy” vào mắm.
       Số là hạt đước rụng xuống, chả chịu chìm mà cứ lềnh bềnh trên mặt nước. Sóng gió, thuỷ triều dễ dàng cuốn phăng “tương lai” của đước ra biển. May mà có anh hàng xóm láng giềng tốt bụng là cây mắm. Hạt mắm rụng là chìm ngay xuống, mọc rễ ngay trong nước mặn. Rễ mắm tua tủa, đồng loạt ngoi lên. Hạt đước rơi xuống nước được rễ mắm “cưu mang”, “bồng bế”, cho đến khi “uống no nước”, đủ nặng để chìm xuống, nhú mầm.
      Trả cái ơn sâu này, đước ta khi trưởng thành lại dùng bộ rễ chắc chắn của mình giữ cho rễ mắm vốn yếu hơn không bị sóng cuốn, gió nhổ. Cứ thế, mắm và đước sát cánh cùng nhau lấn biển, mở mang đất đai và duy trì màu xanh Đất Mũi.
     

      Thân đước già dùng vào ối việc, gỗ thì làm ván sàn, làm đũa, làm thìa, vỏ đước dùng để nhuộm lưới, than đước làm chất đốt…
      Gỗ mắm thì chả có công dụng gì đáng kể ngoài việc làm củi đun. Thế nhưng, quả mắm là thức ăn tuyệt vời cho các loài cá, nhất là cá dứa. Mùa quả mắm rụng, cũng là mùa cá dứa béo, thịt thơm ngon, tịnh không có mùi tanh nào.
      Nếu còn hồ nghi, bạn cứ 1 lần về Đất Mũi mà xem...
   

RỪNG LÀ NHÀ CỦA TỔ TIÊN

minhhuevov | 23 March, 2009 22:37

   Ở nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, có những cánh rừng nguyên sinh được gọi là “rừng cấm" hoặc "rừng thiêng". Những khu rừng này được bảo vệ không phải bằng các quy định của pháp luật mà bằng các "luật tục" mang tính thần bí và thiêng liêng của từng cộng đồng. Vì thế, mặc dù không hề có biển "cấm chặt phá", nhưng không ai dám cả gan xâm phạm. Người Pu Péo ở Hà Giang còn quan niệm, “rừng là nhà của tổ tiên”. Thật là lạ phải không? Mời bạn cùng MH gặp gỡ những người con của dân tộc Pu Péo ở Phố Là, Đồng Văn, Hà Giang.. .

   Xuyên qua cao nguyên Đồng Văn ngút ngàn đá, vào đến Phố Là cảm giác khác hẳn. Mắt không còn nhưng nhức bởi 1 màu đá xám. Bước vào ngôi nhà lợp ngói máng đặc trưng của người Pu Péo, tôi còn nghe thấy tiếng chim lách chách chuyền cành ngay trước cửa. Sáng mùa đông, sương như một tấm khăn lớn màu trắng, choàng lên cánh rừng thâm u. Xóm Củng Chá của người Pu Péo tựa lưng vào rừng già từ bao đời nay. Cánh rừng ấy, nhiều cây to tay người ôm không xuể, dây leo nhằng nhịt… Anh Củng Chẩn Tráng khoát tay giới thiệu: Đó là rừng thiêng, rừng cấm của người Pu Péo. Và đã là rừng thiêng, rừng cấm thì không ai được chặt cây, lấy củi, cho dù đó là cây đổ, cây khô:

    - Riêng cái rừng thiêng ít khi có người vào chặt lắm. Có người vào mà vía yếu 1 tý là có người bị đấy. Bị ốm đấy. Riêng đến bây giờ tôi được nhìn thấy là có 2 trường hợp, người chặt cái rừng thiêng về bị như thế. Sau đó phải hoàn lại theo cái lễ của nó rồi mới khỏi.Có 2 trường hợp ngay xã đây, vào rừng lấy củi bị như thế. Sau họ lại hoàn trả lễ thì khỏi

   - Thế có nghĩa là cái rừng thiêng ấy là cấm không ai được vào?

   - Vào được nhưng cấm không được chặt phá, không được tiểu tiện, đại tiện vào đấy.

    Cho đến nay, người già vẫn truyền lại cho con cháu chuyện 1 nhà kia lén lút vào rừng cấm chặt về làm nhà, chẳng bao lâu, ngôi nhà ấy bị đá lăn làm sập. Rồi ngay trong xã có hai người vào rừng cấm chặt cây thế là về bị ốm thập tử nhất sinh. Những câu chuyện cứ thế lưu truyền đã khiến cho rừng thêm rậm rạp. Thậm chí người Pu Péo còn nhắc nhau: Phải giữ cho khu rừng thiêng ấy thật sạch sẽ, trong lành, vào đến đấy, không ai được tiểu tiện vào đó thậm chí không được nhổ nước bọt. Sở dĩ có những quy định ngặt nghèo ấy là vì: theo quan niệm của người Pu Péo thì khu rừng cấm là nơi ngự trị của các thần, thần Rừng, thần Núi, thần Đất, thần Trời.. cho nên không được làm bất cứ điều gì khiến cho thần nổi giận. Tôi đã rất ngạc nhiên khi anh Củng Phủ Xuẩn giải thích rằng thần rừng đối với người Pu Péo chính là tổ tiên của mình:

   - Các thần này cũng là các cụ mình, tổ tiên mình thôi, sau già, quá cổ rồi thì không nhớ được tên nữa mình mới đặt lên bàn thờ, đưa vào rừng thờ, theo các phong tục các cụ để lại. Mình đi đến đâu vẫn phải thờ cúng, mời. Cái xóm này mà chuyển đi khu vực khác là mình cũng phải mời ông cụ này đi theo, đặt lên rừng cao.

    Các dòng họ người Pu Péo chỉ cúng tổ tiên 5 đời trở lại trong nhà mình; còn tổ tiên trước 5 đời ttrước đó theo ông Củng Diu Pháng thì “không theo mình đâu, mà các cụ thường ở trong rừng, ngụ tại các gốc cây to”. Rừng thiêng chính là ngôi nhà của tổ tiên vậy. Nếu ai dám xâm phạm, phá ngôi nhà của tổ tiên là đắc tội lớn, sẽ bị làng phạt theo luật tục:

    - Cái này rừng thiêng, ai phá, cả xóm ấy người ta phạt chứ. Lúc đầu cũng tuyên truyền giáo giục, nếu lần thứ hai thứ ba là phạt, phạt trâu, bò, theo trị giá, ví dụ anh phá nhiều thì trị giá bằng con trâu, 5-6 triệu hoặc 2,3 triệu theo giá thị trường, hoặc là lợn, dê.

    Và không phải chỉ nộp phạt “hành chính” thế là xong, người vi phạm còn phải làm lễ tại lỗi với thần rừng vào ngày cúng rừng mùng 6/6 âm lịch hàng năm:

   - Hàng năm, mùng 6/6 anh phải mua dê cho làng cúng lại, mời thầy về cúng ví dụ anh đốt vào rừng thiêng, anh phải chịu trách nhiệm anh phải mua con dê về, 1 đôi gà về làm lễ báo cho cụ bảo là thằng này nó lấy nhầm, xin lỗi các cụ, lần sau không lấy nữa.

   Tôi cứ nghĩ, chỉ không được lấy củi, không được làm bậy, làm bạ trong rừng thiêng rừng cấm thôi, chứ còn những khu rừng khác thì không đến nỗi ngặt nghèo, nhưng theo anh Củng PhủXuẩn:

   - Rừng đầu nguồn là rừng chung rồi, mấy đời này nó vẫn cứ quản không được vào. Đã là rừng đầu nguồn, rừng thiêng rồi bọn em không cho phép ai vào vì là nguồn nước, nó phân bổ chỗ nào anh chị được lấy thì mới được lấy, còn không thì cấm. Tại vì cái dân tộc em có 60,9 ha rừng khoanh nuôi, có cái dự án ấy , không cho chặt.

   Bất kỳ người dân Pu Péo nào cũng tự hào, 1 niềm tự hào chính đáng rằng: nơi nào có người Pu Péo ở thì ở đó rừng mãi tươi xanh. Không chỉ giữ rừng, bảo vệ rừng mà người Pu Péo còn tích cực phát triển vốn rừng:

   - Tại vì  chỉ có người Pu Pép ở thì mới giữ được rừng, nếu không thì không thể nào giữ được. Vì hàng năm bọn em vẫn phải trồng mà, mùng 6/6 đến cái ngày cúng rừng thì bọn em có thời gian thì bọn em lại đi giồng thêm vào, cây khô nó già nó đổ, cây khô nó rơi xuống, bọn em cũng không được lấy.

    - Đấy là trong rừng thiêng thôi, còn những nơi khác vẫn được chatự củi chứ?

    - Trong rừng bình thường, bọn em chỉ lấy cành, cây nó con. Bọn em vẫn có rừng khác, cây nào cạnh nương thì có thể đi tỉa để đun.

    Trò chuyện với người già, người trẻ ở xóm Củng Chá này, tôi nhận thấy ai nấy đều thấu hiểu cánh rừng, con suối có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống con người, như anh Củng Phủ Xuẩn:

   - Em nghĩ giữ được rừng thì được cái môi trường, cái thứ hai nữa là được cái cảnh đẹp vì nước nguồn, bọn em không dám lấy vì bọn em sợ thiếu nước. Vì Pu Péo ở đâu là phải có ruộng, sợ thiếu nước, có rừng mới có nước được. Anh mà phá rừng đi thì không có nước tưới tiêu mùa vụ. Hàng năm cấy lúa thì có nhờ vào rừng cho nên mới thờ rừng.

    - Có nghĩa là xuất phát từ nhận thức rất rõ rằng: rừng cho người Pu Péo, thứ ăn, nguồn sống?.

    - Vâng. Có rừng mới có sự sống, mới có nước cho cả dân hưởng cho nên bọn em không có chặt, dân Mông, dân Hoa lên bọn em cũng cấm hết, không được chặt. Họ trộm không bắt được mới phải chịu.

   Vào mùa khô, hầu như đến vùng nào của cao nguyên Đồng Văn cũng thấy cảnh khô khát, người dân cõng can nhựa đi hàng cây số mới hứng được tí nước nhưng người Pu Péo ở Phố Là thì vẫn ung dung. Ông Củng Diu Xuyền bảo: Trong rừng kia có ba thác nước to đổ quanh năm. Rừng cho con người, cho ruộng, nương của Phố Là sự sống là vậy. Cho nên người Pu Péo còn áp dụng luật tục bảo vệ rừng với cả các dân tộc khác nếu chặt phá rừng thiêng, rừng đầu nguồn:

   - Ai mà phá rừng bọn em có luật phạt 50 nghìn /địu. Bọn em bảo vệ nên dân cũng ít khi chặt trộm

   - Người PP thì có ý thức bảo vệ rừng rồi thế nhưng mà những dân tộc sống xen kẽ với người PP như người Hoa, người Mông, khi người ta xâm phạm rừng thì người PP có cách nào để tuuyên truyền, để người ta cũng biết bảo vệ rừng như mình?

   - Có, hàng năm em là 1 trưởng thôn, hàng năm xuống giao ban thì em cũng nhắc nhở báo cho các trưởng xóm không được phá rừng mà phải bảo vệ rừng tốt. Giao ban thì cũng phải nói trong cuộc họp rừng thiêng bọn tôi các ông không được động vào, cái thứ hai nữa rừng đầu nguồn, còn chỗ đồi trọc ác anh trồng được thì các anh tỉa cành thoải mái, còn đầu nguồn, rừng cấm thì tuyệt đối không ai được vào. Họp xóm thì lại đi giải thích cho dân nghe, tuyên truyền về rừng, không được chặt phá.

   Bây giờ thì tôi hiểu vì sao Phố Là ngàn ngạt một màu xanh. Phố Là có 7 thôn, xóm thì cả 7 đều có rừng. Người Pu Péo sống hoà thuận với thiên nhiên, với những cánh rừng từ những triết lý của riêng mình rằng rừng là ngôi nhà của tổ tiên, rừng là nguồn sống bền vững cho cả đời con đời cháu….

CHUYỆN VỀ NGƯỜI ĐÀN BÀ TUYỆT VỜI

minhhuevov | 24 February, 2009 22:50

   8-3 đã cận kề. Xin kể 1 câu chuyện về Người Đàn Bà tuyệt vời tặng cho tất cả các đấng mày râu đã, đang và sẽ có Người Đàn Bà tuyệt vời của mình. Chuyện này MH được thầy giáo dạy văn học Ấn Độ kể cho nghe từ thời học đại học, nhớ lõm bõm nên có thể ghi ra chưa thật đầy đủ. Nếu “đấng bậc” nào có được Người Đàn Bà hội đủ những “phẩm chất” liệt kê sau đây thì “lên tiếng” để cùng chia vui nha….

   Thuở mới sinh ra trời đất, ông thợ Tạo Hóa đến lúc thấy cần phải tạo ra Người Đàn Bà. Trong khi tiến thoái lưỡng nan, thợ Tại Hóa lặng lẽ suy nghĩ hồi lâu rồi gom góp các chất liệu để tạo ra người đàn bà. Tạo Hóa  lấy vẻ đầy đặn của mặt trăng, đường uốn cong của các loài dây leo, dáng run rẩy của các loài cỏ hoa, nét mềm mại của loài lau cói, màu sặc sỡ của nhị hoa, điều nhẹ nhàng của chiếc lá, nỗi xót xa của tầng mây, luồng biến động của cơn gió, tính nhút nhát của con hươu rừng, sắc lộng lẫy của con chim công, hình nhuần nhuyễn của cằm chim yểng, ánh rực rỡ của mặt trời, cảm giác tinh vi của vòi voi, cái nhìn đăm chiêu của mắt nai, sức nóng bỏng của lửa, khí lạnh lẽo của băng tuyết, tiếng hót của chim khách, tiếng kêu của chim quyên, đức trung trinh của chim uyên ương, lòng tàn nhẫn của hùm beo, nét dối trá của cò vạc, đem mọi thứ ấy trộn đều, nặn thành Người Đàn Bà và đem đến cho Người Đàn Ông.

   Chỉ được ba hôm, Người Đàn Ông đến phàn nàn với thợ Tạo Hóa:

   - Cái người mà Ngài giao cho tôi làm cho đời sống hàng ngày của tôi rất đỗi đau khổ. Mồm bà ta nói luôn luôn như phách, lúc nào cũng sán lấy tôi, không chịu rời tôi nửa bước, thành ra bao nhiêu thì giờ vàng ngọc của tôi phải dành cho bà ta hết. Lúc lại đùa nghịch làm cho tôi không chịu nổi, đôi lúc lại còn hờn giận, khóc lóc vu vơ. Thôi thôi, tôi trả bà ta cho Chúa. Tôi không thể kham được nữa.

   Thợ Tạo hóa nói: “Ừ được thôi! Và nhận Người Đàn Bà ở lại.

   Sau bảy hôm, Người Đàn Ông kia lại đến năn nỉ với thợ Tạo Hóa:

   - Từ khi trả Người Đàn Bà cho Chúa đến nay, tôi thường có cảm giác cô đơn, hiu quạnh. Tôi nhớ những lúc nàng nhảy múa cho tôi xem. Giọng nói của nàng nghe âm nhạc, ánh mắt rất nồng nàn, dáng hình rất uyển chuyển, thân thể rất mềm mại…Khi đi chơi, nàng sát lại gần tôi âu yếm. Ngài cho tôi xin lại Người Đàn Bà ấy.

    Thợ Tạo Hóa nói: “Ừ, tốt lắm”.

   Nhưng chỉ được ba hôm, Người Đàn Ông lại đến năn nỉ với thợ Tạo Hóa:

    - Thưa ngài, làm cho tôi vui sướng thì ít mà đau khổ, phiền não thì nhiều. Thôi, lần này tôi xin trả bà ta cho Chúa thật. Xin Ngài nhận lại cho. Tôi không thể, không thể nào kham được nữa.

   Lần này thì thợ Tạo hóa kiên quyết:  “Việc nhà anh mặc xác anh. Anh tự đứng ra mà giải quyết lấy, ta đây không biết” và thản nhiên đi làm công việc của mình.

    Người Đàn Ông đứng lặng một mình không tiến, không lui, miệng lẩm bẩm: “Việc này làm thế nào bây giờ. Ta có nàng cũng không được mà chẳng có nàng cũng không xong”.

1 2 3  Sau»